THÔNG TIN CHI TIẾT


Bảo hiểm Xã hội thành phố Đà Nẵng - Đồng hành cùng Doanh nghiệp và người lao động trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19

Diễn ra vào lúc: 14:30 - Ngày 31/03/2020

Chương trình tiếp nhận câu hỏi từ hôm nay tại địa chỉ www.doithoai.danang.gov.vn, thư điện tử: doithoai@danang.gov.vn hoặc qua số điện thoại: 0236.1022/nhấn số 1 (Trong thời gian diễn ra buổi đối thoại)
Chương trình đối thoại trực tuyến của Cổng Thông tin điện tử thành phố được cập nhật liên tục tại địa chỉ www.doithoai.danang.gov.vn.
Quý vị  có thể tham dự và đặt câu hỏi trực tiếp tại buổi đối thoại cùng chúng tôi, thông tin đăng ký xin vui lòng gửi thư điện tử về địa chỉ doithoai@danang.gov.vn.

Số câu hỏi tham gia/Số câu hỏi đã trả lời: 34/ 21
Xem Trần Linh hỏi:
Em đã đóng bảo hiểm tại công ty cũ được gần 4 năm, đến tháng 3 năm 2020 em nghỉ làm ở nhà không đi làm và cũng lấy sổ bảo hiểm về rồi. Hiện em đang mang thai, và muốn sau khi sinh con được hưởng chế độ thai sản thì em phải làm thủ tục như thế nào? Và trường hợp của em có được hưởng TCTN không ? 

- Về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp: Điều 49 Luật Việc làm quy định người lao động đang đóng BHTN được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV, trừ các trường hợp: người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ, HĐLV trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;
2. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ, HĐLV đối với trường hợp làm việc theo HĐLĐ, HĐLV từ 12 tháng trở lên; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp làm việc theo HĐLĐ mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng;
3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, HĐLV;
4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây: thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; Ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết.
Như vậy, trường hợp của bạn để hưởng trợ cấp thất nghiệp bạn phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ và được xét hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đủ các điều kiện nêu trên. Bạn không cung cấp cụ thể thông tin về ngày chấm dứt dứt HĐLĐ do vậy không thể trả lời là bạn còn trong thời hạn nộp hồ sơ hưởng TCTN hay không.
- Về hưởng chế độ thai sản: Theo quy định tại Điều 31 Luật BHXH số 58/2014/QH13 điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với Lao động nữ sinh con là phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
Đối chiếu với quy định nêu trên, nếu tại thời điểm Bạn sinh con, Bạn đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH trước khi sinh con thì Bạn nộp Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú để được xem xét, giải quyết.




Xem Phạm Thị Lụa hỏi:
Tại đơn vị phát sinh trường hợp tai nạn giao thông trên đường đi làm về và tử vong ngày 18/12/2019. Đơn vị xác định đúng tuyến đường và thời gian hợp lý. Đơn vị đã khai báo với Sở lao động thương binh và xã hội. Vậy cho chúng tôi hỏi hồ sơ để hưởng tai nạn lao động đối với trường hợp này như thế nào để thông báo với thân nhân chuẩn bị. 
Trường hợp đang trong quá trình điều tra chưa thể cung cấp được hồ sơ để giải quyết chế độ mà đơn vị báo giảm lao động do tử tuất từ tháng 01/2020 thì sau khi điều tra xong, có được giải quyết chế độ cho trường hợp tai nạn lao động không. Mong quý cơ quan hướng dẫn sớm để đơn vị xử lý trường hợp này cho đúng và kịp thời để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Xin chân thành cảm ơn!

Trường hợp người lao động của đơn vị Bạn bị tai nạn chết người trên tuyến đường đi từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý, được Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh kết luận là trường hợp bị tai nạn lao động thì được giải quyết hưởng chế độ tử tuất.
Khoản 1 Điều 111 Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 quy định: 
 “Điều 111. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất
1. Hồ sơ hưởng chế độ tử tuất đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội và người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bao gồm:
a) Sổ bảo hiểm xã hội;
b) Bản sao giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc bản sao quyết định tuyên bố là đã chết của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
c) Tờ khai của thân nhân và biên bản họp của các thân nhân đối với trường hợp đủ điều kiện hưởng hằng tháng nhưng chọn hưởng trợ cấp tuất một lần;
d) Biên bản điều tra tai nạn lao động, trường hợp bị tai nạn giao thông được xác định là tai nạn lao động thì phải có thêm biên bản tai nạn giao thông hoặc biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông quy định tại khoản 2 Điều 104 của Luật này; bản sao bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp đối với trường hợp chết do bệnh nghề nghiệp;
đ) Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với thân nhân bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.”
Điểm a Khoản 1.2.4 Điều 6 Quy trình giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/01/2019 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định hồ sơ giải quyết chế độ tử tuất đối với trường hợp thân nhân của người đang đóng BHXH, đang bảo lưu thời gian đóng BHXH:
“a) Trường hợp thân nhân của người đang đóng BHXH, đang bảo lưu thời gian đóng BHXH:
a1) Sổ BHXH.
a2) Bản sao giấy chứng tử hoặc bản sao giấy báo tử hoặc trích lục khai tử hoặc bản sao quyết định tuyên bố là đã chết của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
a3) Tờ khai của thân nhân theo mẫu số 09-HSB.
a4) Biên bản giám định mức suy giảm KNLĐ của Hội đồng GĐYK đối với thân nhân bị suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên (bản chính, trường hợp người lao động đã có biên bản GĐYK để hưởng các chính sách khác trước đó mà đủ điều kiện hưởng thì có thể thay bằng bản sao) hoặc bản sao giấy xác nhận khuyết tật mức độ đặc biệt nặng (tương đương mức suy giảm KNLĐ từ 81% trở lên) theo quy định tại Thông tư số 01/2019/TT-BLĐTBXH trong trường hợp hưởng trợ cấp tuất hàng tháng do suy giảm KNLĐ.
a5) Trường hợp chết do TNLĐ, BNN thì có thêm biên bản điều tra TNLĐ hoặc bệnh án điều trị BNN.
a6) Trường hợp thanh toán phí GĐYK thì có thêm hóa đơn, chứng từ thu phí giám định; bảng kê các nội dung giám định của cơ sở thực hiện GĐYK.
a7) Bản khai cá nhân về thời gian, địa bàn phục vụ trong quân đội có hưởng phụ cấp khu vực theo mẫu số 04C-HBKV ban hành kèm theo Thông tư số 181/2016/TT-BQP đối với người có thời gian phục vụ trong quân đội trước ngày 01/01/2007 tại địa bàn có hưởng phụ cấp khu vực mà sổ BHXH không thể hiện đầy đủ thông tin làm căn cứ tính phụ cấp khu vực”.
Đề nghị đơn vị căn cứ các quy định nêu trên để hướng dẫn thân nhân của người lao động lập hồ sơ hưởng chế độ tử tuất theo quy định.
Việc đơn vị báo giảm lao động do tử tuất từ tháng 01/2020, không ảnh hưởng đến việc giải quyết chế độ BHXH cho người lao động.




Xem Trần Ngọc hỏi:
Người đang thực hiện cách ly do nghi nhiễm Covid-19 có được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh không?

Người tham gia Bảo hiểm y tế (BHYT) sẽ được Quỹ BHYT chi trả chi phí trị bệnh, người không tham gia BHYT được ngân sách nhà nước chi trả. BHXH Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố cùng với cơ sở KCB chuẩn bị đầy đủ lượng thuốc men liên quan đến việc KCB, nhu cầu sử dụng thuốc của người bệnh.
Đặc biệt đối với các bệnh nhân bị cách ly, dù là cách ly tập trung hay tại nhà có nhu cầu khám chữa bệnh (KCB), ngoài chi phí đặc trị cho Covid-19 còn những chi phí còn lại của người có thẻ BHYT sẽ được cơ quan BHXH chi trả 100%.
Theo BHXH Việt Nam, quỹ BHYT sẽ thanh toán chi phí cho những người có thẻ BHYT đi khám khi có triệu chứng nghi ngờ như sốt, ho, khó thở và xét nghiệm chẩn đoán bệnh trong trường hợp âm tính với virus Corona. Nếu có kết quả dương tính và cần điều trị tiếp, toàn bộ chi phí điều trị và xét nghiệm cũng do ngân sách nhà nước chi trả.
Đối với người bị áp dụng biện pháp cách ly y tế, đang trong thời gian cách ly mà mắc phải các bệnh khác phải khám, điều trị hoặc đang điều trị bệnh khác mà bị áp dụng biện pháp cách ly y tế, trường hợp người có thẻ BHYT được quỹ BHYT thanh toán chi phí điều trị các bệnh khác trong phạm vi quyền lợi như đối với trường hợp cấp cứu, trừ chi phí đã được ngân sách nhà nước chi trả.
Nếu điều trị tại nơi không có hợp đồng KCB BHYT thì được quỹ BHYT thanh toán trực tiếp trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng BHYT như đối với trường hợp cấp cứu, trừ chi phí KCB đã được miễn. Người không có thẻ BHYT thì phải tự thanh toán chi phí điều trị bệnh khác.
Trường hợp người bệnh tự đi KCB được kết luận không phải áp dụng biện pháp cách ly y tế, người có thẻ BHYT được quỹ BHYT thanh toán chi phí KCB thực hiện theo quy định của pháp luật về BHYT. Người không có thẻ BHYT phải tự thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật về giá dịch vụ KCB




Xem Nguyễn Thị Ly Ly hỏi:
Nếu trong doanh nghiệp có người thuộc diện cách ly hoặc bị nhiễm Covid-19 thì những người có nằm trong diện được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội không?

Điều 25 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định về điều kiện hưởng chế độ ốm đau:

1. Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế.

Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau.

2. Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Như vậy, đối với người bị cách ly y tế mà không bị mắc bệnh truyền nhiễm không phải là trường hợp ốm đau và không phải điều trị. Trường hợp này, hiện nay không có trong quy định của Luật BHXH và chưa có văn bản hướng dẫn của cấp có thẩm quyền nên không được giải quyết hưởng chế độ ốm đau.

Trường hợp người lao động bị nhiễm Covid - 19 phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế thì được giải quyết hưởng chế độ ốm đau theo quy  định của Luật BHXH




Xem Phạm Như Hiền hỏi:
Nếu NLĐ nghỉ không lương 1-2 tháng trong giai đoạn ảnh hưởng của dịch bệnh, nhưng sau đó NLĐ xin nghỉ việc luôn thì tháng liền kề trước khi nghỉ việc được xem là không tham gia BHXH. Như vậy NLĐ có được nhận Bảo hiểm thất nghiệp hay không?

Điều 49 Luật Việc làm quy định người lao động đang đóng BHTN được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV, trừ các trường hợp: người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ, HĐLV trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;

2. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ, HĐLV đối với trường hợp làm việc theo HĐLĐ, HĐLV từ 12 tháng trở lên; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp làm việc theo HĐLĐ mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, HĐLV;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây: thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; Ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết.

Khoản 2  Điều 12 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp quy định: “Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp là người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và được tổ chức bảo hiểm xã hội xác nhận.

Trường hợp của Bạn, do Bạn nghỉ không lương 01- 02 tháng nên căn cứ theo quy định trên Bạn không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.




Xem Phạm thị thuỳ an hỏi:
(H) Dạ em là Thuỳ An là giáo viên tại trường Mn tư thục Bé Thông Minh, Quận Hải Châu tp ĐN. Em làm giáo viên từ năm 2013 . Em tham gia bảo hiểm xã hội từ năm 2015. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, trường thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố Đà Nẵng nên ngừng công tác dạy và học, nên trường không đóng bảo hiểm và em nghe là tạm hoãn khi nào đi làm lại mới đóng. Nhưng hiện tại em đang có thai tuần thứ 12 dự sinh là ngày 11/10 . Bản thân khi tìm hiểu bảo hiểm nếu muốn nhận được chế độ thai sản phải đóng 6 tháng trước khi sinh, và trường đã đóng bhxh đến hết tháng 1/2020, nhưng như vậy e đã mất tháng 2,3 và chuẩn bị là tháng 4 . Bản thân hiện tại nghỉ làm và không có lương nên gặp khó khăn nếu như phải đóng hết bhxh trong 6 tháng . Vậy có chế độ nào cho người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch covid 19 khi đang trong thời kỳ thai sản ko??

Về điều kiện để hưởng chế độ thai sản là tham gia BHXH từ đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh. Hiện nay chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn hỗ trợ chế độ cho người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch covid 19 khi đang trong thời kỳ mang thai. Trường hợp của bạn có thể tham khảo thêm về quy định ngừng việc của Bộ luật lao động, quy định tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất của Luật BHXH. 




Xem Nguyễn Ngọc Vân hỏi:
Công ty tôi hoạt động trong lĩnh vực may mặc, người lao động tại Công ty tôi thay nhau nghỉ luân phiên vì công việc không nhiều do ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Vậy, Công ty tôi có được ngừng đóng BHXH, BHYT không?

Tại Khoản 3 Điều 85 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Vì vậy, nếu người lao động tại doanh nghiệp Bạn không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH, BHYT tháng đó. 




Xem Ngọc Thanh hỏi:
Tôi đang bị bệnh đái đường có nhu cầu tái khám hằng tháng để khám, xét nghiệm nhận thuốc điều trị. Trong tình trạng dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, Chính phủ khuyến cáo không tập trung nơi đông người nếu không thật sự cần thiết. Vậy làm sao tôi tái khám để nhận thuốc?

Trả lời: Do tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhằm hạn chế việc tập trung đông người bệnh tại cơ sở KCB, tránh lây lan dịch bệnh Covid-19, sau khi thống nhất với Bộ Y tế, BHXH Việt Nam đã thống nhất với các cơ sở KCB BHYT từ tuyến huyện trở lên trên địa bàn như sau: Đối với các trường hợp người bệnh được chẩn đoán mắc các bệnh mãn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp… đang được các cơ sở KCB khám, cấp thuốc điều trị ngoại trú theo hàng tháng, khi đến khám lại theo hẹn sẽ được:
 Bác sỹ, y sĩ kê đơn thuốc căn cứ vào tình trạng người bệnh để có thể kê số lượng thuốc sử dụng trong đơn cho người bệnh là người cao tuổi, người mắc bệnh cần điều trị dài ngày cấp thuốc điều trị ngoại trú đủ dùng trong 2 tháng (không quá 03 tháng) và hẹn khám lại cho người bệnh 2 tháng một lần nếu vẫn đảm bảo an toàn cho người bệnh và không ảnh hưởng tới liệu trình điều trị bệnh. Cơ sở khám, chữa bệnh phải cung cấp số điện thoại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh để liên hệ khi cần thiết; Việc kê đơn thuốc này chỉ thực hiện trong thời gian phòng, chống dịch bệnh, khi hết thời gian công bố dịch thực hiện theo quy định hiện hành.




Xem Nguyễn Ngọc Thành hỏi:
Vì tình hình dịch bệnh Covid19 nên doanh nghiệp tôi làm việc đang tạm thời dừng hoạt động, tôi được biết là làm việc dưới 14 ngày sẽ không được mua bảo hiểm xã hội và y tế, cho tôi hỏi liệu việc ngừng mua bảo hiểm y tế có ảnh hưởng đến tính liên tục của tôi hay không ? Và có thể giãn nợ bảo hiểm xã hội đến hết năm cho doanh nghiệp tôi được không ?

1. Bảo hiểm xã hội:
 Tại Khoản 3 Điều 85 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Vì vậy, nếu người lao động tại doanh nghiệp Bạn không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính là thời gian tham gia BHXH.
2. Bảo hiểm y tế:
- Tiết c điểm 1 Khoản 15 Điều 1 Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT quy định mức hưởng là 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT 05 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến.
- Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế quy định thời gian tham gia BHYT 05 năm liên tục trở lên đối với đối tượng phải cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Thời gian tham gia BHYT liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tối đa không quá 03 tháng.
Như vậy, nếu Bạn tham gia BHYT gián đoạn trên 03 tháng thì thời gian tham gia BHYT không được tính là 05 năm liên tục và Bạn sẽ không được hưởng quyền lợi 100% chi phí khám bênh, chữa bệnh khi có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến.
3. Trên cơ sở chỉ đạo của BHXH Việt Nam tại Công văn số 860/BHXH-BT ngày 17/3/2020 về việc tạm dừng đóng và quỹ hưu trí và tử tuất đối với đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, BHXH thành phố đã ban hành Công văn số 489/BHXH-QLT ngày 18/3/2020 gửi các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn, đề nghị doanh nghiệp Bạn đối chiếu với tình hình thực tế để phối hợp thực hiện.




Xem Trần Ngọc Kiên hỏi:
Doanh nghiệp tôi hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng trên địa bàn thành phố đang đối mặt với nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh. Vì vậy doanh nghiệp thỏa thuận với người lao động nghỉ không lương trên 14 ngày trong 1 tháng. Tuy nhiên, doanh nghiệp mong muốn được tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động, như vậy có được không? 

- Tại Khoản 3 Điều 85 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Vì vậy, nếu người lao động tại doanh nghiệp Bạn không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. 
- Tại Khoản 8 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT quy định Người lao động ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động (quy định tại Điều 98 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13) mà vẫn được hưởng tiền lương thì người lao động và đơn vị thực hiện đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN theo mức tiền lương người lao động được hưởng trong thời gian ngừng việc (tiền lương ngừng việc do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định). Vì vậy, nếu người lao động tại doanh nghiệp Bạn ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động mà vẫn được hưởng tiền lương thì người lao động và doanh nghiệp Bạn vẫn thực hiện đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN.




Xem Lê Thành Nhân hỏi:
Hiện nay, dịch Covid-19 đang tiếp tục diễn ra phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Trường hợp doanh nghiệp nằm trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thường xuyên năm 2020 của BHXH thành phố là doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 thì BHXH thành phố sẽ xử lý như thế nào ?

Vấn đề này đã được BHXH Việt Nam chỉ đạo tại Công văn số 854/BHXH-TTKT ngày 17/3/2020. Theo đó, BHXH thành phố sẽ chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch Covid-19. Để góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đảm bảo an sinh xã hội, ứng phó với dịch bệnh, căn cứ diễn biến thực tế của tình hình dịch bệnh tại thành phố, Giám đốc BHXH thành phố sẽ chủ động xem xét giãn hoặc điều chỉnh việc thực hiện thanh tra, kiểm tra thường xuyên theo kế hoạch đối với các đơn vị bị ảnh hưởng bởi dịc Covid-19 cho phù hợp. Tuy nhiên, đối với những cơ quan, đơn vị, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN ; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan QLNN có thẩm quyền giao, Giám đốc BHXH thành phố vẫn sẽ tích cực và cương quyết thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra theo đúng quy định.




Xem doanh nghiệp không nêu tên hỏi:
Đối với các doanh nghiệp thuộc đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì việc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT được thực hiện như thế nào ?

Để triển khai Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 17/3/2020, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Công văn số 860/BHXH-BT hướng dẫn BHXH các địa phương thực hiện tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí, tử tuất đối với doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 có nêu rõ:  Trong thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, không thực hiện thanh tra chuyên ngành đóng hoặc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT đối với các DN bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 gây ra, nếu DN không có dấu hiệu vi phạm. Đồng thời, hằng tháng, BHXH các địa phương đôn đốc DN đóng đầy đủ, kịp thời vào quỹ ốm đau, thai sản, quỹ tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN), quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) và BH thất nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ.




Xem Lê Thị Hiền hỏi:
Các anh chị cho tôi hỏi, đơn vị tôi thành lập năm 2018 và kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng. Vừa qua cơ quan tôi nhận thông báo cơ quan BHXH đề nghị đăng ký tham gia BHXH cho người lao động tại đơn vị. Do tình hình dịch Covid 19 diễn ra phức tạp, nhà hàng tạm đóng cửa chưa biết thời gian hoạt động trở lại và cho nhân viên nghỉ không hưởng lương tháng 02/2020. Vậy cho tôi hỏi khi nào nhà hàng hoạt động trở lại đơn vị chúng tôi sẽ đăng ký tham gia BHXH cho người lao động có đúng quy định hay không ?

 Khoản 1 Điều 2; Khoản 3 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
3. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
Tiết a, Khoản 1 Điều 99 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc tuyển dụng, người sử dụng lao động nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 97 của Luật này cho cơ quan bảo hiểm xã hội; 
Như vậy theo quy định trên đơn vị phải đăng ký tham gia BHXH cho người lao động theo quy định. Việc đơn vị không tham gia cho người lao động từ năm 2018 đến nay là vi phạm Luật BHXH.




Xem Trần Văn Linh hỏi:
Công ty chúng tôi được thành lập vào tháng 7/2017, trước khi dịch Covid-19 xảy ra công ty chúng tôi làm ăn thuận lợi, tham gia đóng BHXH đầy đủ cho người lao động. Tuy nhiên từ khi có dịch công việc làm ăn rất khó khăn người lao động nghỉ việc. Hiện tại còn 20 người tiếp tục làm việc (tất cả giao kết HĐLĐ từ 01 tháng trở lên). Vậy trong giai đoạn khó khăn này tôi xin đóng BHXH cho 6 lao động là người quản lý từ cấp trưởng bộ phận trở lên cho đến khi hết dịch doanh nghiệp hoạt động trở lại bình thường thì công ty chúng tôi sẽ đóng đầy đủ cho số lao động, như vậy có  được không?

Tại Điểm a,b khoản 1, Điều 2 Luật BHXH 2014 Quy định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là ” 
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động; 
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ 01/01/2018);”
Căn cứ các quy định trên đơn vị thực hiện đóng BHXH cho số lao động đang làm việc tại đơn vị.




Xem Phạm Văn Kha hỏi:
Tôi tiếp xúc gần với người được xác định nhiễm COVID – 19, hiện đang được cách ly. Do lo bị lây nên tôi tự nghỉ việc cách ly ở nhà, trường hợp của tôi có được giải quyết hưởng chế độ ốm đau không?

Điều 25 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định về điều kiện hưởng chế độ ốm đau: 
1. Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế.
Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau.
2. Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Như vậy, đối với người bị cách ly y tế mà không bị mắc bệnh truyền nhiễm không phải là trường hợp ốm đau và không phải điều trị. 
Trường hợp này, hiện nay không có trong quy định của Luật BHXH và chưa có văn bản hướng dẫn của cấp có thẩm quyền nên không được giải quyết hưởng chế độ ốm đau.




Xem Hoàng Ngọc Khải hỏi:
Người thân của tôi đang tham gia BHXH bắt buộc, được xác định nhiễm COVID – 19, hiện đang được cách ly. Trường hợp này có được giải quyết hưởng chế độ ốm đau không?

Điều 25 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định về điều kiện hưởng chế độ ốm đau: 
1. Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế.
Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy theo danh mục do Chính phủ quy định thì không được hưởng chế độ ốm đau.
2. Phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Căn cứ quy định tại Điều 25 nêu trên, người thân của Bạn được giải quyết hưởng chế độ ốm đau. 




Xem Huỳnh Ngọc Quốc Khánh hỏi:
Tôi được công ty cấp bảo hiểm y tế từ tháng 5/2019. Do ảnh hưởng bởi dịch bệnh, từ tháng 3/2020, công ty cho tôi nghỉ việc, Tuy nhiên, công ty có hỗ trợ tiền tham gia BHYT. Vậy công ty đóng cho tôi hay tôi mua ở đâu đề được hưởng quyền lợi BHYT?

Tại Điểm a Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế quy định mức đóng bảo hiểm y tế hằng tháng của người lao động và đơn vị sử dụng lao động bằng 4,5% tiền lương tháng của người lao động. Vì vậy, Bạn không hưởng tiền lương tháng thì Bạn không thuộc đối tượng tham gia BHYT tại đơn vị sử dụng lao động. Nếu đơn vị Bạn hỗ trợ tiền để tham gia BHYT thì Bạn tham gia BHYT hộ gia đình tại địa phương nơi cư trú.




Xem Lê Thị Thúy hỏi:
Trước khi nộp đơn nghỉ việc do tình hình dịch bệnh nên em xin phép công ty nghỉ không lương và công ty đã chấp thuận. Nghĩa là trong vòng 2 tháng em không nộp bảo hiểm xã hội. Vậy em có được nhận bảo hiểm thất nghiệp theo quy định không ạ?

Điều 49 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp:
“Điều 49. Điều kiện hưởng
Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;
3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;
4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;
đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
e) Chết.”
Khoản 2  Điều 12 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp quy định: “Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp là người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và được tổ chức bảo hiểm xã hội xác nhận. Tháng liền kề bao gồm cả thời gian sau:
a) Người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội;
b) Người lao động có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị.”
Trường hợp của Bạn, do Bạn nghỉ không lương 02 tháng nên căn cứ theo quy định trên Bạn không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp.




Xem Hoàng Tuấn hỏi:
Đơn vị tôi là trường học, bị ảnh hưởng gián tiếp bởi Covid 19, người lao động vẫn đi làm và vẫn được hưởng lương. Tuy nhiên, do không thu được học phí nên hoạt động tại đơn vị khó khăn. Tôi muốn cơ quan BHXH cho tôi ngừng đóng BHXH, BHYT trong một thời gian và không tính lãi.

Tại Khoản 2 Điều 21 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014; Khoản 9 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) số 46/2014/QH13 và Khoản 1 Điều 44 Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 quy định: hằng tháng, người sử dụng lao động đóng và trích tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. 
Tại Khoản 3 Điều 6 Quyết định 60/QĐ-Ttg ngày 27/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy dịnh: trường hợp chậm đóng bảo hiểm y tế từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 9 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố trên Cổng Thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; trường hợp trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng;
Căn cứ vào các quy định trên, cơ quan BHXH không có thẩm quyền để đơn vị giãn thời gian đóng BHXH, BHYT và không tính lãi chậm nộp.




Xem Phạm Thị Hiền hỏi:
Thưa ông Nguyễn Hùng Anh, dưới góc nhìn của ngành Bảo hiểm xã hội, ông có thể chia sẻ những khó khăn hiện nay của doanh nghiệp và người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong tình hình dịch bệnh Covid-19

Dịch bệnh Covid19 đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, cuộc sống của người dân cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh trên phạm vi toàn cầu:

Người lao động bị mất việc, ngừng việc, thất nghiệp nên mất hoặc giảm thu nhập; bị cách lý, lây nhiễm phải khám chữa bệnh,… Doanh nghiệp ngừng hoạt động, thậm chí phá sản, không có nguồn tài chính trích nộp, trả nợ BHXH, BHYT, BHTN... 

Trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN tại Đà Nẵng, tạm tính đến 15h chiều hôm qua 30/3 có trên 1.100  doanh nghiệp, gần 70 ngàn lao động bị ảnh hưởng; riêng số lao động giảm tháng 3 khoảng 11.300 người so với tháng trước và giảm 16 người so với cuối năm 2019. 

Nếu tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp hơn thì số đơn vị, người lao động bị ảnh hưởng sẽ tiếp tục tăng. 




Xem Trần Phi hỏi:
Dịch COVID diễn biến trên toàn cầu nền doanh nghiệp tôi hoạt động trong lĩnh vực lữ hành bị ảnh hưởng nặng nề, không thể tạo ra doanh thu để trả lương và các khoản đóng BHXH cho nhân viên. Cơ quan BHXH có thể cho đơn vị tôi nợ BHXH đến tháng 06/2020 được không?

Tại Khoản 2 Điều 21 Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014; Khoản 9 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) số 46/2014/QH13 và Khoản 1 Điều 44 Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 quy định: hằng tháng, người sử dụng lao động đóng và trích tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Căn cứ vào các quy định trên, cơ quan BHXH không có thẩm quyền để đơn vị giãn thời gian đóng BHXH, BHYT.
Trên cơ sở chỉ đạo của BHXH Việt Nam tại Công văn số 860/BHXH-BT ngày 17/3/2020 về việc tạm dừng đóng và quỹ hưu trí và tử tuất đối với đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, BHXH thành phố đã ban hành Công văn số 489/BHXH-QLT ngày 18/3/2020 gửi các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn, đề nghị doanh nghiệp Bạn đối chiếu với tình hình thực tế để phối hợp thực hiện.