THÔNG TIN CHI TIẾT


Chính sách hỗ trợ ngư dân vươn khơi, bám biển

Diễn ra vào lúc: 08:30 - Ngày 06/09/2019

Chương trình tiếp nhận câu hỏi từ hôm nay tại địa chỉ www.doithoai.danang.gov.vn, thư điện tử: doithoai@danang.gov.vn hoặc qua số điện thoại: 0236.1022/nhấn số 1 (Trong thời gian diễn ra buổi đối thoại)
Chương trình đối thoại trực tuyến của Cổng Thông tin điện tử thành phố được cập nhật liên tục tại địa chỉ www.doithoai.danang.gov.vn.
Quý vị  có thể tham dự và đặt câu hỏi trực tiếp tại buổi đối thoại cùng chúng tôi, thông tin đăng ký xin vui lòng gửi thư điện tử về địa chỉ doithoai@danang.gov.vn.

Số câu hỏi tham gia/Số câu hỏi đã trả lời: 23/ 23
Xem Lê Văn Thái hỏi:
Sau khi bị thiệt hại, ngư dân sẽ gửi hồ sơ như thế nào để được cơ quan nhà nước hỗ trợ 1 phần kinh phí?

Hiện nay, Văn phòng thường trực BCH PCTT và TKCN thành phố đang nghiên cứu lấy ý kiến các đơn vị liên quan để xây dựng quy trình, trước mắt đề nghị bà con ngư dân làm theo các nội dung:
Bước 1: Chủ phương tiện có đơn xin hỗ trợ gửi UBND phường, quận nơi đăng ký thường trú. 
- Đơn xin hỗ trợ nêu rõ: lý do, thời điểm, quá trình bị nạn; thiệt hại; hoàn cảnh gia đình; có mua bảo hiểm hay không; đề xuất hỗ trợ…
- Đơn xin hỗ trợ có xác nhận của UBND phường, Đồn Biên phòng nơi xuất bến.
- Bảng kê chi tiết thiệt hại.
- Các giấy tờ khác liên quan: biên bản tiếp nhận nguồn tin của Đồn Biên phòng; giấy chứng nhận đăng ký tàu cá; giấy phép khai thác thủy sản…
Bước 2: UBND phường khi nhận được đơn xin hỗ trợ của ngư dân có nhiệm vụ báo cáo, đề xuất UBND quận trình cấp có thẩm quyền xem xét trình UBND thành phố hỗ trợ.
Bước 3: UBND quận khi nhận được báo cáo, đề xuất UBND phường, cần kiểm tra hồ sơ để trình cấp có thẩm quyền cho phù hợp với trường hợp bị nạn:
- Đối với trường hợp bị nạn do thiên tai thì báo cáo đề xuất Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn thành phố xem xét, tham mưu UBND thành phố hỗ trợ.
- Đối với các trường hợp bị nạn khác thì báo cáo đề xuất Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố xem xét, tham mưu UBND thành phố hỗ trợ.
UBND thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và địa phương thực hiện công tác tuyên truyền đến ngư dân về Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro do thiên tai trên biển, đồng thời ban hành Quyết định 3922/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2014 về việc thành lập và quy định quản lý, sử dụng Quỹ hỗ trợ ngư dân thành phố Đà Nẵng.
Kết quả thực hiện:
1. Hỗ trợ khắc phục rủi ro do thiên tai trên biển theo Quyết định 118/2007/QĐ-TTg.
- Lũy kế từ năm 2010 đến tháng 8/2019 đã hỗ trợ 618.500.000 (đồng), trong đó: 
+ Hỗ trợ 21 tàu cá bị thiệt hại về tài sản với tổng kinh phí hỗ trợ 522.000.000đ.
+ Hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn 09 lượt tàu cá với tổng kinh phí hỗ trợ 96.500.000đ.
2. Hỗ trợ các trường hợp bị tai nạn, rủi do theo Quyết định 3922/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2014
 Tính đến tháng 8/2019 thành phố đã trích ngân sách và sử dụng Quỹ hỗ trợ ngư dân trên 930.000.000 (đồng) để hỗ trợ cho 107 trường hợp bị tai nạn, rủi do không thuộc diện được hỗ trợ theo Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg.




Xem Ngô Lân hỏi:
Xin cho biết thêm về nguồn kinh phí để đảm bảo các hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển ?

- Tại Khoản 3, Điều 1 của Quyết định số 118/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, ứng phó thiên tai, thảm họa có quy định:
“- Cứu nạn là các hoạt động cứu người bị nạn thoát khỏi nguy hiểm đang đe dọa đến tính mạng của họ, bao gồm cả tư vấn biện pháp y tế ban đầu, các biện pháp khác để đưa người bị nạn đến vị trí an toàn.
- Cứu hộ là hoạt động cứu phương tiện, tài sản thoát khỏi nguy hiểm hoặc hoạt động cứu trợ (bao gồm cả việc kéo, đẩy) phương tiện đang bị nguy hiểm, được thực hiện thông qua giao kết hợp đồng hoặc thỏa thuận cứu hộ giữa tổ chức, cá nhân thực hiện việc cứu hộ với tổ chức, cá nhân đề nghị cứu hộ.”
- Tại Điều 2 của Quyết định số 118/2008/QĐ-TTg ngày 27 tháng 8 năm 2008 có quy định:
“1. Đối với hoạt động tìm kiếm cứu nạn, ứng phó thiên tai, thảm họa (sau đây gọi tắt là hoạt động tìm kiếm cứu nạn):
- Ngân sách nhà nước cấp (ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) theo quy định của pháp luật
- Các khoản hỗ trợ, viện trợ của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước cho hoạt động tìm kiếm cứu nạn.
- Các khoản thu thông qua các hợp đồng dịch vụ, đền bù của cơ quan bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
2. Đối với hoạt động cứu hộ:
Tổ chức, cá nhân được cứu hộ có trách nhiệm thanh toán kịp thời toàn bộ chi phí trực tiếp phát sinh, hợp lý, hợp lệ cho tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia cứu hộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 Quyết định này.
3. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự nguyện đóng góp kinh phí, nhân lực, phương tiện, tài sản để tham gia vào hoạt động tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ.”
- Trong thời gian qua, đối với các trường hợp cứu hộ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố cũng đã phối hợp với Sở Tài chính, UBND các địa phương tham mưu UBND thành phố hỗ trợ 1 phần kinh phí để hỗ trợ ngư dân vượt qua khó khăn, tiếp tục vươn khơi bám biển.




Xem Lê Dần hỏi:
Liên quan đến các nội dung hỗ trợ bảo hiểm đối với tàu cá, được biết nhiều năm qua PVI là một trong những đơn vị cung cấp bảo hiểm đối với tàu cá trên địa bàn thành phố, xin cho biết từ khi thực hiện NĐ67 và NĐ17 (sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều, khoản của NĐ 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 07 năm 2014) thì công tác bồi thường đối với các tàu theo NĐ67 đã được thực hiện như thế nào?

Kể từ khi thực hiện NĐ67 và NĐ17(sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều, khoản của NĐ 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 07 năm 2014) của chính phủ đề ra, công tác giải quyết bồi thường cho ngư dân được thực hiện khi xảy ra sự cố như sau: 
- Khi PVI nhận được thông báo tổn thất từ Chủ tàu, PVI đã cử cán bộ trực tiếp liên lạc hướng dẫn sơ bộ đến Chủ tàu hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất và đảm bảo an toàn trên biển. nhanh chóng triển khai các công tác cứu hộ cứu nạn cần thiết để đảm bảo an toàn về người và tài sản trên tàu. 
- Sau khi thống nhất với Chủ tàu thời gian tàu cập bến và thu xếp buôn bán các hải sản đánh được ngoài khơi(tránh hư hỏng các loại hải sản đánh được) giám định viên của PVI tiến hành công tác giám định tổn thất và thu thập các hồ sơ liên quan đến tổn thất. trong quá trình giám định giám định viên thống nhất bằng biên bản với chủ tàu các hạng mục bị hư hỏng, hướng dẫn chi tiết các chứng từ hồ sơ cần chủ tàu cung cấp để đánh giá trách nhiệm của bảo hiểm. sau khi xem xét hồ sơ, PVI thông báo số tiền thuộc trách nhiệm của bảo hiểm PVI, giải thích các điểm trong quy tắc bảo hiểm được chấp thuận đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài Chính và gửi công văn thông báo đến Chủ tàu được biết. 
- Sau khi được sự đồng ý của Chủ tàu về số tiền bồi thường, PVI tiến hành bồi thường theo quy định của quy tắc bảo hiểm được chấp thuận đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài Chính.
Tất cả các vụ tổn thất PVI đều bám sát và thực hiện giải quyết bồi thường theo quy định của quy tắc bảo hiểm được chấp thuận đăng ký theo công văn số 18759/BTC-QLBH ngày 16/12/2015 của Bộ Tài Chính và quy định hiện hành nhằm hỗ trợ cho ngư dân vươn khơi bám biển bảo vệ chủ quyền đất nước.




Xem Lâm Thanh Hải hỏi:
 Điều kiện, chính sách và thủ tục hỗ trợ của chương trình tàu cá theo nđ 67 ( 17 sửa đổi) và chính sách hỗ trợ tàu cá theo quy định của nq 255 – tp đà nẵng năm 2019 đối với các chủ tàu khi tham gia mua bảo hiểm được thực hiện như thế nào ?

1. Điều kiện được hưởng: 
- Tàu khai thác thủy sản hoặc tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thuỷ sản có tổng công suất máy chính  từ 90CV trở lên
- Tàu cá hoạt động vùng khơi – là tàu có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên được đăng ký tại thành phố Đà Nẵng.
- Có đầy đủ và còn hiệu lực: Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá , giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, Giấy phép khai thác thủy sản.
- Là thành viên tổ đổi, nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã khai thác thủy sản
- Chủ tàu đã  ký Hợp đồng mua bảo hiểm và được bảo hiểm PVI cấp giấy chứng nhận bảo hiểm thân tàu.
2. Chính sách được hưởng:
- Được hỗ trợ trực tiếp 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên theo chính sách hỗ trợ từ Trung ương theo quy định của NĐ 17.
- Được hỗ trợ trực tiếp 50% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu theo chính sách hỗ trợ từ Trung ương theo quy định của NĐ 17.
- Được hỗ trợ sau thanh toán 40% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu của Thành phố Đà Nẵng( Với điều kiện chủ tàu đã thanh toán trước 50% kinh phí mua bảo hiểm còn lại mà Trung ương không hỗ trợ và được hỗ trợ hoàn tất các thủ tục giấy tờ thanh toán tại Công ty bảo hiểm PVI Đà Nẵng). 
3. Hồ sơ, trình tự, thủ tục được hưởng chính sách hỗ trợ:
3.1. Đối với tàu cá theo NĐ 17 bao gồm thân tàu & Tai nạn tuyền viên: Chủ tàu thực hiện và cung cấp các giấy tờ như sau:
- Điền đầy đủ thông tin vào giấy yêu cầu bảo hiểm tàu khai thác hải sản xa bờ - mẫu do PVI cung cấp.
- Bản chính xác nhận là thành viên tổ đội của Ủy ban nhân dân phường ký xác nhận hoặc bản sao có công chứng.
-Bản sao giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá còn hiệu lực.
-Bản sao giấy chứng nhận đăng ký tàu cá.
-Bản sao giấy phép khai thác thủy sản còn hiệu lực
-Bản sao sổ danh bạ thuyền viên tàu cá.
3.2. Đối với tàu cá theo Nghị quyết 255: Hồ sơ đề nghị hỗ trợ
- Đơn đề nghị hỗ trợ có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường/ xã nơi chủ tàu có hộ khẩu thường trú về các nội dung đề nghị hỗ trợ( Mẫu đơn đề nghị sẽ do PVI cung cấp).
- Bản sao chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước( Đối với cá nhân) ; bản sao chứng nhận thành lập tổ chức và giấy CMND/ Thẻ căn cước của người đại diện tổ chức ( Đối với tổ chức). Lưu ý: Chủ tàu nhớ mang bản chính khi đi nộp hồ sơ tại PVI  để đối chiếuvới bản sao.
- Bản chính xác nhận là thành viên tổ đội của Ủy ban nhân dân phường ký xác nhận hoặc bản sao có công chứng.
- Bản sao giấy chứng nhận àn toàn kỹ thuật tàu cá còn hiệu lực.
- Bản sao giấy chứng nhận đăng ký tàu cá.
- Bản sao giấy phép khai thác thủy sản còn hiệu lực.
- Bản chính hợp đồng và giấy chứng nhận bảo hiểm thân tàu.
4. Trình tự và thủ tục hỗ trợ thanh toán:
4.1 Đối với tàu cá theo chương trình tàu cá NĐ 17: Được hỗ trợ trực tiếp ngay sau khi hoàn tất các thủ tục.
4.2 Đối với tàu cá theo chương trình NQ 255 của TP Đà Nẵng: Được hỗ trợ sau thanh toán
- Khi các chủ tàu thực hiện mua bảo hiểm thân tàu, PVI hướng dẫn lập hồ sơ đề nghị hỗ trợ theo quy định và hỗ trợ chủ tàu làm thủ tục thanh toán.   
- PVI sẽ đầu mối tiếp nhận  hồ sơ gửi Chi cục Thủy sản vào ngày đầu tiên mỗi tháng. Thời hạn thanh toán là 45 ngày sau khi mua bảo hiểm.
- Khi có Quyết định của UBND thành phố, Chi cục sẽ thông báo cho PVI  biết để liên hệ ngư dân đến kho bạc nhận tiền.
*) Đối với Chủ tàu chỉ được hưởng chính sách theo quy định theo NQ 255 của HĐND TP ĐN.
1.Điều kiện được hưởng: 
- Tàu khai thác thủy sản hoặc tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thuỷ sản có tổng công suất máy chính  từ 90CV trở lên
- Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12m trở lên được đăng ký tại thành Phố Đà Nẵng.
- Có đầy đủ và còn hiệu lực: Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá , giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, Giấy phép khai thác thủy sản.
- Là thành viên tổ đổi, nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã khai thác thủy sản
- Chủ tàu đã  ký Hợp đồng mua bảo hiểm và được bảo hiểm PVI cấp giấy chứng nhận bảo hiểm thân tàu theo quy tắc Bảo hiểm thân tàu cá của Tổng Công ty Bảo hiểm PVI đăng ký với Bộ tài chính.
2.Chính sách được hưởng:
- Được hỗ trợ sau thanh toán 40% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu của Thành phố Đà Nẵng( Với điều kiện chủ tàu đã thanh toán trước 100% kinh phí mua bảo hiểm và được hỗ trợ hoàn tất các thủ tục giấy tờ thanh toán tại Công ty bảo hiểm PVI Đà Nẵng). 
3. Hồ sơ, trình tự, thủ tục được hưởng chính sách hỗ trợ và thủ tục thanh toán tại mục 3.2 như hướng dẫn trên.
Mọi chi tiết đề nghị Quý chủ tàu liên hệ theo địa chỉ sau: 
Công ty Bảo hiểm PVI Đà Nẵng
Địa chỉ : 54 & 56 Nguyễn Văn Linh – TP Đà Nẵng
Địa chỉ liên hệ: 199A Nguyễn Hữu Thọ - TP Đà Nẵng.




Xem Nguyễn Lan hỏi:
Quý vị có thể cho biết trong thời gian qua Chính phủ và thành phố Đà Nẵng đã có những chính sách nào hỗ trợ ngư vươn khơi bám biển ?

Thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo Bảo vệ nguồn lợi và Phát triển thủy sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, kịp thời ban hành các văn bản phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương về quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, hỗ trợ chuyển đổi nghề khai thác, giảm tàu cá dưới 20cv, hỗ trợ đóng mới tàu khai thác và tàu dịch vụ hầu cần xa bờ, bảo quản sản phẩm sau khai thác,...; đồng thời tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Trung ương và địa phương về hỗ trợ ngư dân phát triển thủy sản: 
1. Chính sách của Chính phủ
Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ ngư dân hoạt động trên các vùng biển xa; Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thuỷ sản; Nghị định số 17/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro do thiên tai trên biển; 
2. Chính sách của thành phố Đà Nẵng
Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 của UBND thành phố Đà Nẵng về Quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ đóng mới tàu khai thác hải sản và tàu dịch vụ khai thác hải sản cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Quyết định số 4991/QĐ-UBND ngày 26/7/2016 của UBND thành phố Đà Nẵng.




Xem Võ Thị Hòa hỏi:
Cho hỏi các chính sách hỗ trợ của Trung ương và của thành phố trong thời gian qua đã có tác động như thế nào đối với nghề khai thác thủy sản thành phố Đà Nẵng?

Các chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản của Trung ương và của thành phố trong thời gian qua đã kịp thời giải quyết các khó khăn của ngư dân về nhu cầu đóng mới, nâng cấp tàu cá, trang thiết bị khai thác, bảo quản sản phẩm. Tạo điều kiện phát triển đội tàu thế hệ mới khai thác xa bờ, trang bị đầy đủ các máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại, đảm bảo thông tin liên lạc; tạo thuận lợi cho ngư dân phát triển kinh tế biển kết hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên biển.
Tổng số tàu thuyền thành phố Đà Nẵng đến ngày 15 tháng 3 năm 2019 có 1.246 chiếc tàu, trong đó tàu dưới 90cv có 576 chiếc chiếm 46,2%, tàu từ 90cv trở lên là 670 chiếc chiếm 53,8%, công suất bình quân 312,3cv/tàu. Hiện tại, cơ cấu tàu thuyền và nghề khai thác tại thành phố đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm số lượng tàu công suất dưới 90cv khai thác ở vùng biển ven bờ và vùng lộng, tăng mạnh số lượng tàu từ 90cv trở lên khai thác ở vùng khơi, Giá trị khai thác hải sản tăng theo từng năm, nếu như năm 2010 bình quân 01 tấn hải sản có giá là 20.662.000 đ/tấn thì đến năm 2018 đã tăng lên 47.821.000đ/tấn, tăng 27.159.000đ/tấn (131,4%).




Xem Trịnh Thị Thoa hỏi:
Chương trình có thể cho biết về tình hình triển khai thực hiện các chính sách nhằm phát triển đội tàu khai thác hải sản vùng khơi trong thời gian qua tại thành phố Đà Nẵng?

1. Triển khai Nghị định 67/2014/NĐ-CP và Nghị định số 17/2018/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sảntrong thời gian qua tại thành phố Đà Nẵng.
a) Vay vốn đóng mới:
- Có 07 tàu cá đóng mới (05 tàu vỏ thép và 02 tàu vỏ gỗ)/08 tàu được UBND thành phố Đà Nẵng phê duyệt với tổng số vốn vay là: 116.527.000.000 đồng. 
- Đến nay tất cả 07 tàu đã hoàn thành đóng mới và đi vào hoạt động sản xuất (04 tàu khai thác thủy sản, 02 tàu làm nghề dịch vụ hậu cần khai thác thủy sản kiêm khai thác thủy sản và 01 tàu chuyên dịch vụ hậu cần khai thác thủy sản).
b) Vay vốn nâng cấp tàu cá: Có 02 chủ tàu được vay vốn nâng cấp 02 tàu cá với tổng số vốn vay là: 1.850.000.000 đồng.
c) Vay vốn lưu động: Không có hồ sơ nào đủ điều kiện để được vay vốn
d) Chính sách duy tu, bảo dưỡng tàu cá
Từ khi triển khai Nghị định đến nay, UBND thành phố Đà Nẵng đã hỗ trợ duy tu, bảo dưỡng cho 5 lượt tàu cá vỏ thép đóng mới theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP với số tiền 551.189.000 đồng.
đ) Chính sách bảo hiểm (số tàu được bảo hiểm thân tàu/số người được bảo hiểm tai nạn thuyền viên)
- Lũy kế từ năm 2015 đến nay có 613 lượt tàu mua bảo hiểm thân tàu với tổng số tiền 14.377.105.040 đồng.
- Lũy kế từ năm 2015 đến nay có 10.544 lượt thuyền viên được bảo hiểm tai nạn thuyền viên với tổng số tiền 3.163.200.000 đồng.
2. Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 12 tháng 12 năm 2014 quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ đóng mới tàu khai thác hải sản và tàu dịch vụ khai thác hải sản cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, trong đó hỗ trợ đến 800 triệu đồng/tàu cá đóng mới có tổng công suất từ 800cv trở lên.
Từ khi triển khai đến nay, đã có 141 tàu cá (hầu hết là tàu có công suất trên 800cv) đóng mới theo chính sách hỗ trợ này và được UBND thành phố ban hành Quyết định hỗ trợ với tổng kinh phí là 109.995.872.000 đồng.
Sau khi số lượng tàu cá khai thác vùng khơi tại thành phố Đà Nẵng đã đạt mục tiêu đề ta. Ngày 01/02/2019 UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 09/2019/QĐ-UBND về bãi bỏ Quyết định 47/2014/QĐ-UBND (dừng chính sách hỗ trợ đóng mới tàu cá).




Xem Trần Thái (QThanh Khê) hỏi:
Chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác thủy sản trong chương trình khuyến ngư được áp dụng trên đối tượng nào và mức hỗ trợ như thế nào?

Theo Nghị định 83/2018/NĐ-CP ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ về Khuyến nông, tại Điều 29 quy định:  Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình
a) Mô hình trình diễn ở địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, địa bàn bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch hại, biến đổi khí hậu theo công bố của cấp có thẩm quyền được hỗ trợ tối đa 100% chi phí về giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để xây dựng mô hình;
b) Mô hình trình diễn ở địa bàn trung du, miền núi, bãi ngang được hỗ trợ tối đa 70% chi phí về giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để xây dựng mô hình;
c) Mô hình trình diễn ở địa bàn đồng bằng được hỗ trợ tối đa 50% chi phí về giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để xây dựng mô hình;
d) Mô hình ứng dụng công nghệ cao được hỗ trợ tối đa 40% tổng kinh phí thực hiện mô hình (đối với tất cả các địa bàn);
đ) Mô hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nông nghiệp được hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện mô hình nhưng không quá 100 triệu đồng/mô hình (đối với tất cả các địa bàn);
e) Hỗ trợ tối đa 100% chi phí chứng nhận cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn, cơ sở an toàn dịch bệnh khi tham gia xây dựng mô hình theo quy định hiện hành (đối với tất cả các loại mô hình).
Căn cứ vào các khoản điều 29 của nghị định 83/NĐ-CP , Chính sách hỗ trợ ngư dân trong chương trình khuyến ngư chỉ được áp dụng tại khoản c Điều 29 với hỗ trợ tối đa mức 50% chi phí vật tư để xây dựng mô hình trình diễn ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khai thác hải sản.
Ngoài chính sách khuyến ngư theo Nghị Định 83/NĐ-CP ngư dân có thể  tham gia thực hiện theo Nghị Quyết số 255/2019/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng nhân dân TP Đà Nẵng về việc Quy định chính sách hỗ trợ phát triển khai thác hải sản trên địa bàn thành phố, tại mục 5 Điều 1 quy định: Chủ tàu có thể đăng ký hỗ trợ cho mỗi tàu để trang bị các loại máy, thiết bị trong một lần hoặc nhiều lần trong giai đoạn từ 2019 - 2025 nhưng tổng mức hỗ trợ tối đa một lần hoặc cộng dồn không quá 500 triệu đồng/01 tàu. 




Xem Lê Khánh Linh hỏi:
Trong thời gian qua việc hỗ trợ chính sách khuyến ngư khai thác thực hiện theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP và Nghị định 83/2018/NĐ-CP có gì khác biệt?

Trong thời gian qua việc hỗ trợ chính sách khuyến ngư theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP về hoạt động khuyến nông và Thông tư 183/2010/TTLT-BTC-BNN ngày 15/11/2010 về hướng dẫn Nghị định 02/2010/NĐ-CP, cụ thể: 
- Mô hình sản xuất nông nghiệp trình diễn: ở địa bàn khó khăn, huyện nghèo, được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và các vật tư thiết yếu (bao gồm các loại phân bón, hoá chất, thức ăn gia súc, thức ăn thủy sản); ở địa bàn trung du miền núi, bãi ngang được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và 50% chi phí mua vật tư thiết yếu; ở địa bàn đồng bằng được hỗ trợ 100% chi phí mua giống và 30% chi phí mua vật tư thiết yếu. 
- Mô hình cơ giới hoá nông nghiệp, bảo quản chế biến, nghề muối và ngành nghề nông thôn được hỗ trợ chi phí mua công cụ, máy cơ khí, thiết bị: ở địa bàn khó khăn huyện nghèo được hỗ trợ 100% chi phí, nhưng tối đa không quá 150 triệu đồng/mô hình; ở địa bàn trung du miền núi, bãi ngang hỗ trợ tối đa 75% chi phí, nhưng không quá 125 triệu đồng/mô hình; ở địa bàn đồng bằng hỗ trợ tối đa 50%, nhưng không quá 75 triệu đồng/mô hình.
- Mô hình khai thác và bảo quản sản phẩm trên biển gần bờ (không bao gồm vỏ tàu, máy tàu): hỗ trợ tối đa 50% chi phí trang thiết bị, nhưng không quá 125 triệu đồng/mô hình; Mô hình khai thác và bảo quản sản phẩm trên biển xa bờ và tuyến đảo (không bao gồm vỏ tàu, máy tàu): hỗ trợ tối đa 50% chi phí trang thiết bị, nhưng không quá 200 triệu đồng/mô hình.
- Mô hình ứng dụng công nghệ cao hỗ trợ tối đa 30% tổng kinh phí thực hiện mô hình, nhưng không quá 200 triệu đồng/mô hình.
- Mô hình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh tổng hợp nông nghiệp hiệu quả và bền vững: Hỗ trợ tối đa không quá 30 triệu đồng/mô hình.
Theo Nghị định 83/2018/NĐ-CP của Chính phủ  Mô hình trình diễn ở địa bàn đồng bằng được hỗ trợ tối đa 50% chi phí về giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để xây dựng mô hình. Chưa có Thông tư hướng dẫn Nghị định này.




Xem Nguyễn Thành Lợi hỏi:
Những nội dung, hạng mục vật tư (các loại máy, thiết bị vật tư nào) phục vụ cho tàu khai thác xa bờ mà chương trình khuyến ngư có thể hỗ trợ?

Theo Nghị định 83/2018/NĐ-CP của Chính phủ Mô hình trình diễn ở địa bàn đồng bằng được hỗ trợ tối đa 50% chi phí về giống, thiết bị, vật tư thiết yếu để xây dựng mô hình, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới được cấp có thẩm quyền công nhận.
Bên cạnh đó, theo Nghị Quyết số 255/2019/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng nhân dân TP Đà Nẵng về việc Quy định chính sách hỗ trợ phát triển khai thác hải sản trên địa bàn thành phố thì ngư dân được phép tham gia nhận hỗ trợ Các loại máy, thiết bị sau:
- Máy, thiết bị dùng trong bảo quản sản phẩm:
+ Hầm bảo quản sản phẩm bằng vật liệu Polyurethane (PU);
+ Hầm (thùng) bảo quản sản phẩm có gắn thiết bị lạnh;
+ Máy, thiết bị sản xuất nước đá sệt, đá vảy, đá tuyết, cấp đông;
+ Máy, thiết bị bảo quản sản phẩm bằng công nghệ Nano.
- Máy, thiết bị dùng trong khai thác thủy sản bao gồm:
+ Máy, thiết bị dò cá;
+ Máy, thiết bị định dạng tự động AIS;
+ Rada;
+ Máy, thiết bị lọc nước biển làm nước ngọt sử dụng trên tàu cá.




Xem Ánh Hồng hỏi:
Ngư dân có thể tham gia nhiều chính sách hỗ trợ trong một năm hay không?

- Đối với chương trình khuyến ngư thì ngư dân không được tham gia hơn 01 (một) chương trình trong 01 năm.
- Đối với chương trình thực hiện theo Nghị Quyết số 255/2019/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng nhân dân TP Đà Nẵng về việc Quy định chính sách hỗ trợ phát triển khai thác hải sản trên địa bàn thành phố thì ngư dân được phép tham gia nhiều chương trình trong một năm nhưng tối đa không quá 500.000.000 đ/01 tàu. 




Xem Võ Minh Trí hỏi:
Trong thời gian qua Ủy ban châu Âu (EC) đã cảnh báo “thẻ vàng” đối với sản phẩm thủy sản khai thác của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường châu Âu. Vậy IUU là gì và chúng ảnh hưởng đến ngành hải sản của Việt Nam ra sao?

IUU là chương trình chống các hoạt động đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định. Năm 2002, EU ban hành IUU trên cơ sở triển khai “Kế hoạch hành động quốc tế” của Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 2001, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ các hoạt động đánh bắt cá vi phạm IUU.
Ngày 23/10/2017, Ủy ban châu Âu (EC) đã cảnh báo “thẻ vàng” đối với sản phẩm thủy sản khai thác của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường châu Âu vì Việt Nam thực hiện chưa tốt quy định về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Khi bị cảnh báo “thẻ vàng”, 100% lô hàng thủy sản có nguồn gốc từ khai thác của Việt Nam bị kiểm tra khi xuất khẩu sang thị trường châu Âu (EU); tên quốc gia bị cảnh báo sẽ được công khai trên các tạp chí và website chính thức của EU; có thể gây ra nhiều tác động xấu, ảnh hưởng trực tiếp với việc xuất khẩu hải sản sang châu Âu.
Nếu không giải quyết được các vấn đề về chống khai thác IUU, Việt Nam sẽ bị xác định là quốc gia không hợp tác và có thể sẽ bị áp dụng biện pháp “thẻ đỏ”. Trường hợp bị áp “thẻ đỏ” thì tất cả sản phẩm thủy sản từ khai thác của Việt Nam sẽ bị cấm xuất khẩu vào EU.




Xem Lê Khánh Hải hỏi:
Thành phố Đà Nẵng đã có những giải pháp nào trong việc thực hiện chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) để góp phần tháo gỡ thẻ vàng của EC đối với thủy sản khai thác của Việt Nam

Ngay sau khi EC cảnh báo “thẻ vàng” đối với Việt Nam, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ban ngành Trung ương, UBND các tỉnh, thành phố ven biển đã tập trung chỉ đạo, đề ra các giải pháp để khắc phục khuyến nghị của EC. 
Bốn nhóm khuyến nghị mà EC đã yêu cầu nước ta phải thực hiện là Khung pháp lý; Hệ thống theo dõi, giám sát và kiểm soát hoạt động tàu cá; Thực thi pháp luật và Truy xuất nguồn gốc thủy sản từ khai thác.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 45/CT-TTg về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của EC về chống khai thác IUU; Quyết định số 78/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về chống khai thác IUU đến năm 2025
UBND thành phố Đà Nẵng đã kịp thời ban hành Kế hoạch thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Kế hoạch thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nghề cá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và Quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nghề cá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đồng thời chỉ đạo các địa phương có quản lý tàu cá, Bộ đội Biên phòng và các sở, ngành, tổ chức có liên quan tập trung triển khai tuyên truyền. phổ biến pháp luật. 
Các giải pháp đã và đang triển khai thực hiện 
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân về Luật Thủy sản 2017 và các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề về khai thác IUU. 
- Tăng cường tuần tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm khai thác IUU khi tàu cá rời cảng, cập cảng và đang hoạt động khai thác trên biển.
- Tổ chức theo dõi, giám sát, kiểm soát để phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm tàu cá, ngư dân có dấu hiệu vi phạm vùng biển nước ngoài. 
- Triển khai thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nghề cá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được ban hành tại Quyết định số 2838/QĐ-UBND ngày 07/7/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố.
- Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; các văn bản chỉ đạo, điều hành đã ban hành để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm thống nhất với Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Hoàn thành đúng lộ trình lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá theo quy định tại Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2019 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.
- Tổ chức thực hiện cập nhật, lưu trữ dữ liệu, hồ sơ liên quan đến việc triển khai thực hiện chống khai thác IUU để tổng hợp báo cáo thường xuyên, đột xuất và thực hiện truy xuất nguồn gốc để phục vụ xác nhận, chứng nhận thủy sản khai thác đúng quy định.




Xem Lê Văn Thái hỏi:
Nghề khai thác thủy sản vùng khơi hiện nay tiềm ẩn khá nhiều rủi ro, tai nạn xin quí vị cho biết thêm về các chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro do thiên tai trên biển hiện nay?

UBND thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và địa phương thực hiện công tác tuyên truyền đến ngư dân về Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro do thiên tai trên biển, đồng thời ban hành Quyết định 3922/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2014 về việc thành lập và quy định quản lý, sử dụng Quỹ hỗ trợ ngư dân thành phố Đà Nẵng.
Trích nội dung Điều 2 và Điều 3 của Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg:
“Điều 2. Hỗ trợ thiệt hại về người
Ngoài các chính sách chế độ trợ giúp theo quy định tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, hỗ trợ bổ sung đối với các trường hợp thiệt hại về người bị rủi ro do thiên tai trên biển như sau:
1. Hỗ trợ 100% chi phí mua vé phương tiện về nơi cư trú đối với các trường hợp gặp rủi ro xa nơi cư trú (kể cả rủi ro ở ngoài vùng biển Việt Nam).
2. Hỗ trợ 100% các chi phí: vận chuyển cấp cứu người từ biển vào đất liền; bảo quản xác nạn nhân; thông tin tìm kiếm người mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 30 ngày.
3. Đối với người được huy động hoặc tự nguyện tham gia tìm kiếm, cứu nạn người và tàu, thuyền khác, ngoài các chính sách được hưởng như quy định nêu tại các khoản 1, 2 Điều này, được hưởng chế độ phụ cấp quy định tại Quyết định số 70/2006/QĐ-TTg ngày 29 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp đặc thù đi biển đối với công chức, viên chức, công nhân, nhân viên trên tàu tìm kiếm cứu nạn hàng hải và được xem xét, khen thưởng theo quy định pháp luật hiện hành.
Điều 3. Hỗ trợ thiệt hại về tài sản
1. Được xem xét hỗ trợ thiệt hại đối với các phương tiện sản xuất (tàu, thuyền, ngư cụ, lồng bè) bị mất, bị hư hỏng nặng; hỗ trợ chi phí trục vớt phương tiện sản xuất (tàu, thuyền, ngư cụ, lồng bè) bị chìm hoặc bị trôi dạt; hỗ trợ con giống thủy sản đối với các diện tích nuôi thủy sản bị thiệt hại, khi khôi phục sản xuất.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ hoàn cảnh thực tế, đối tượng, mức độ thiệt hại và khả năng ngân sách để quy định cụ thể mức hỗ trợ bổ sung.
2. Được xem xét miễn, giảm các loại thuế theo quy định pháp luật hiện hành.
3. Được hỗ trợ cấp máy thông tin liên lạc, 100% phao cứu sinh đối với tàu, thuyền đánh bắt xa bờ bị chìm, hư hỏng nặng, khi khôi phục sản xuất.
4. Hỗ trợ 100% chi phí nhiên liệu, chi phí sửa chữa (nếu tàu bị hư hỏng) đối với các tàu, thuyền được huy động hoặc tự nguyện tham gia cứu hộ, cứu nạn người và tàu, thuyền bị rủi ro do thiên tai trên biển.”
Kết quả thực hiện:
1. Hỗ trợ khắc phục rủi ro do thiên tai trên biển theo Quyết định 118/2007/QĐ-TTg.
- Lũy kế từ năm 2010 đến tháng 8/2019 đã hỗ trợ 618.500.000 đồng, trong đó: 
+ Hỗ trợ 21 tàu cá bị thiệt hại về tài sản với tổng kinh phí hỗ trợ 522.000.000 đồng.
+ Hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn 09 lượt tàu cá với tổng kinh phí hỗ trợ 96.500.000 đồng.
2. Hỗ trợ các trường hợp bị tai nạn, rủi do theo Quyết định 3922/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2014
 Tính đến tháng 8/2019 thành phố đã trích ngân sách và sử dụng Quỹ hỗ trợ ngư dân trên 930.000.000 (đồng) để hỗ trợ cho 107 trường hợp bị tai nạn, rủi do không thuộc diện được hỗ trợ theo Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg.




Xem Dương Thị Nga hỏi:
Đối với các hoạt động khai thác thủy sản và công tác quản lý xin quí vị cho biết thêm các khó khăn, tồn tại của ngư dân thành phố Đà Nẵng hiện nay?

 - Tuy số lượng tàu cá khai thác hải sản vùng khơi tại thành phố tăng mạnh song sản lượng đánh bắt những năm qua tăng chưa tương xứng, chất lượng thủy sản chưa được cao, dẫn đến giá sản phẩm vẫn còn thấp. 
- Chưa xây dựng hoàn chỉnh chuỗi liên kết từ khai thác, thu mua và cung cấp dịch vụ hậu cần ngay trên biển.
- Việc tổ chức cho ngư dân hoạt động sản xuất theo mô hình tổ, đội, nghiệp đoàn nghề cá chưa phát huy hết hiệu quả. 
- Khó khăn về lực lượng lao động trên biển ngày càng khan hiếm, phần lớn lao động chưa được qua đào tạo đang là thách thức, áp lực trong phát triển ngành thủy sản. 
- Về quy định trang bị thiết bị giám sát hành trình: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa có thông báo cho địa phương các đơn vị cung cấp thiết bị giám sát hành trình đáp ứng đủ các yêu cầu tại Điều 44 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP nên Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa có cơ sở tham mưu UBND thành phố triển khai thực hiện.
- Về quy định chứng chỉ thợ máy tàu cá: theo điểm a Khoản 2 Điều 10 Thông tư số 22/2018/TT-BNNPTNT ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về thuyền viên tàu cá, tàu công vụ thủy sản, trong đó quy định chức danh, định biên thuyền viên an toàn tối thiểu trên tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên phải có thuyền trưởng, máy trưởng và thợ máy tàu cá, thực tế hiện nay trên địa bàn thành phố chưa có ngư dân đã được cấp văn bằng, chứng chỉ thợ máy tàu cá.




Xem Lê Long hỏi:
Trước những khó khăn, tồn tại của ngư dân, quý vị cho biết thành phố Đà Nẵng đã có những giải pháp gì hỗ trợ ngư dân khắc phục khó khăn, vươn khơi bám biển?

1. Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả, đúng quy định các chính sách hỗ trợ ngư dân phát triển thủy sản của Chính phủ và các chính sách khác có liên quan. 
2. Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 255/2019/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng nhân dân thành phố về Quy định chính sách hỗ trợ phát triển khai thác hải sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2019-2025, trong đó: 
- Hỗ trợ 40% kinh phí mua bảo hiểm thân tàu cho tàu khai thác thủy sản hoặc hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản ngoài mức hỗ trợ 50% theo các chính sách hỗ trợ của Trung ương.
- Hỗ trợ 100% kinh phí để mua thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên tàu cá và kinh phí thuê bao năm đầu tiên tính từ thời điểm kết nối thiết bị phục vụ trong khai thác thủy sản, hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản.
- Hỗ trợ 50% kinh phí để trang bị máy, thiết bị dùng trong bảo quản sản phẩm; máy, thiết bị dùng trong khai thác thủy sản.
3. Xây dựng kế hoạch tổ chức đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thợ máy cho ngư dân thành phố Đà Nẵng năm 2019
4. Triển khai thực hiện hiệu quả công tác rà soát, củng cố sắp xếp, thành lập mới các tổ đoàn kết thác hải sản trên địa bàn thành phố và hướng dẫn các tổ nâng cao hiệu quả hoạt động.




Xem Hoàng Sơn hỏi:
Song song với các chính sách hỗ trợ ngư dân, vươn khơi bám biển không thể không nhắc đến các giải pháp phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá và chế biến thủy, hải sản, chương trình hãy cho biết về công tác đầu tư cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cá tại thành phố hiện nay?

a) Tình hình hoạt động khu dịch vụ hậu cần nghề cá Thọ Quang
Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang bao gồm cảng cá, chợ đầu mối thủy sản và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá với diện tích mặt nước là 58ha, diện tích trên bờ là 04ha. Trong đó, khu neo đậu tránh trú bão đầu tư, xây dựng đưa vào sử dụng từ năm 2004; Khu cảng cá được đầu tư từ năm 2008 phục vụ di dời cảng cá Thuận Phước sang và Chợ đầu mối Thủy sản Thọ Quang đầu tư, xây dựng đưa vào sử dụng từ năm 2010.
Hoạt động của Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang được kết nối với KCN DVTS, đóng sửa tàu thuyền, sản xuất và cung ứng nước đá, cung cấp ngư lưới cụ, xăng dầu... trung bình mỗi ngày có trên 3.000 – 5.000 người, 45 - 50 lượt tàu thuyền, 350 lượt xe ô tô và trên 1.000 lượt xe máy hoạt động; trong khu  vực Âu thuyền có 10 xưởng nước đá công suất 19.350 cây/ngày, 04 cây xăng dầu, 26 tàu cung ứng dầu hoạt động thường xuyên, 10 xưởng sửa chữa, đóng tàu thuyền; hoạt động 24/24 giờ tất cả các ngày trong năm. 
 Từ năm 2013 đến nay, tốc độ phát triển của Cảng cá Thọ Quang bình quân tăng trên 15% năm, lượng tàu thuyền các tỉnh bạn như: Bình Thuận, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa thiên Huế, Quảng Bình,...vào Âu thuyền - Cảng cá Thọ Quang để mua bán hải sản và sử dụng các dịch vụ hậu cần nghề cá. Hằng năm Âu thuyền - Cảng cá Thọ Quang tiếp nhận trên có 15.600 lượt tàu cá và trên 115.000 tấn hải sản qua cảng.
Đối với khu neo đậu tránh trú bão trung bình mỗi ngày có từ 350 đến 450 chiếc tàu neo đậu; những ngày có gió bão, ATNĐ có từ 800 - 1.000 chiếc (trong khi công suất neo đậu an toàn được công bố tại Quyết định số 1121/QĐ-BNN-TCTS ngày 04/4/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là 493 chiếc). 
Với cơ sở ha tầng nghề cá tại Cảng cá Thọ Quang hiện nay, cơ bản đáp ứng được các điều kiện cần thiết để hỗ trợ nghề cá Đà Nẵng phát triển, kể cả nghề cá khu vực miền Trung. 
b) Tình hình đầu tư hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá đồng bộ
Để tiếp tục phát huy hiệu quả, khai thác lợi thế, nguồn lực, đáp ứng dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển, Ngành đang xúc tiến dự án nâng cấp, mở rộng cảng cá Thọ Quang. Khi dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch, bố trí các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp, trật tự, mỹ quan, an toàn thực phẩm, giảm thời gian chờ bốc dỡ hàng và chờ đợi tiếp nhận vật tư, nhiên liệu, tăng khả năng nơi neo đậu cho tàu thuyền tránh bão và bảo đảm các yếu tố xây dựng cảng cá, chợ cá sinh thái, theo hướng hiện đại gắn với điểm tham quan du lịch, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Trong đó, 
- Khi dự án hoàn thiện, chiều dài bến cầu tàu sẽ tăng thêm (150 + 82)m = 232m, gấp đôi so với hiện nay, cơ bản đáp ứng cho tàu cập cảng, đẩy nhanh việc bốc dỡ hải sản, giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và tổn thất do suy giảm chất lượng;
- Tổ chức sắp xếp lại dịch vụ hậu cần trên bờ, tập trung vào khâu thu mua, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm thủy sản; thí điểm tổ chức bán đấu giá sản phẩm. Từng bước áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị sản phẩm từ khai thác, bảo quản, đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm khai thác, bảo đảm các quy định về an toàn thực phẩm và phù hợp các cam kết quốc tế về khai thác hải sản;
- Tổ chức điều động, bố trí tàu theo từng khu vực cụ thể, với từng nhóm công suất tàu, nhóm nghề cụ thể nhằm thuận lợi cho việc theo dõi, quản lý tàu, đảm bảo  kiểm tra, kiểm soát về an toàn thực phẩm, giám sát sản lượng hải sản lên bến; quy định khu vực bốc dỡ hải sản tàu lưới kéo riêng, khu vực bốc hàng phục vụ xuất khẩu riêng, tiêu thụ nội địa riêng.
- Lắp đặt hệ thống cân điện tử tại 03 cầu cảng, camera quan sát, hệ thống ròng rọc, cẩu nâng hàng, thiết bị bảo quản, phương tiện vận chuyển… để đẩy nhanh quá trình bốc dỡ hải sản, giảm thiểu ô nhiễm và phục vụ việc giám sát, xác nhận sản lượng hải sản qua cảng chặt chẽ; 
- Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp cải thiện và đảm bảo môi trường tại khu vực; tiếp nhận, ứng dụng các công nghệ, giải pháp kỹ thuật về xử lý ô nhiễm, Áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động, kiểm tra, xử lý “nguội” qua hệ thống camera, từ chối tiếp nhận vào cảng nhằm răn đe, giảm thiểu, tiến đến xử lý dứt điểm tình tạng xả rác thải, nước thải không đúng quy định xuống vùng nước Âu thuyền… hướng đến xây dựng chợ hải sản văn minh, kết hợp khai thác du lịch. 
- Tiếp tục thực hiện tốt Quyết định số 1939/QĐ-UBND ngày 13 tháng 4 năm 2017 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc phê duyệt Đề án cung ứng thủy sản an toàn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2017 – 2020 và Quyết định số 35/2016/QĐ-UBND ngày 02 tháng 11 năm 2016 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc ban hành Quy định quản lý an toàn thực phẩm đối với sản phẩm nông lâm thủy sản đã qua chế biến không bao gói sẵn và sản phẩm rau, trái cây, thủy sản nhập vào tiêu thụ tại thành phố Đà Nẵng.




Xem Nguyễn Vũ hỏi:
Kính thưa quí vị khách mời tham dự buổi đối thoại hôm nay, tôi có hai câu hỏi đề nghị Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang giải đáp. Câu hỏi thứ nhất Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang hiện nay luôn quá tải, đâu là giải pháp để khắc phục quá tải hiện nay?

a) Thực trạng
Số lượng tàu thuyền neo đậu tại Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang được công bố tại Quyết định số 1121/QĐ-BNN-TCTS ngày 04/4/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là 493 chiếc. 
Trong thực tế hoạt động, số lượng tàu cập tại các cầu cảng luôn quá tải và thường tăng từ 1,5 lần đến trên 2 lần so với số lượng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố, cụ thể:
- Đối với tàu neo đậu trong vùng nước Âu thuyền: qua theo dõi, thống kế trong điều kiện thời tiết bình thường mỗi ngày có 450 – 550 tàu neo đậu thường xuyên, trung bình mỗi phao bù có từ  20 - 25 tàu neo đậu, có phao bù 35 - 40 tàu, neo đậu nhiều lớp không bảo đảm an toàn PCCC; trong các đợt gió bão, số lượng tàu thuyền về neo đậu tránh trú bão từ 800 – 1000 chiếc.
- Đối với tàu cập cảng: Cảng cá Thọ Quang có 03 cầu cảng chữ T, với chiều dài 210m (mỗi cầu dài 70), đáp ứng cho 25 tàu cập cảng trên ngày nhưng mỗi ngày Cảng cá Thọ Quang tiếp nhận trung bình từ 50 – 60 tàu, cao điểm trên 100 tàu/ngày, nên tình trạng quá tải diễn ra thường xuyên, gây bức xúc cho ngư dân (Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang đã cố gắng bố trí hợp lý nhất, như cho cập mũi, điều động nhanh tàu hết cá ra bên ngoài… nhưng vẫn không đáp ứng hết nhu cầu cập cảng của tàu). Mặt khác, với thiết kế cầu cảng chữ T, không đủ mặt bằng bến bãi cho việc sử dụng thiết bị cơ giới (cẩu, nâng, bằng chuyền…) để cơ giới hóa, đẩy nhanh việc bốc dỡ, giảm ô nhiễm môi trường và tổn thất hải sản qua cảng.
b) Giải pháp
Hiện nay thành phố đang triển khai Dự án nâng cấp, cải tạo Cảng cá Thọ Quang nhằm sớm đưa vào sử dụng cơ sở hạ tầng đồng bộ, rộng rãi, đủ không gian bố trí cho nhóm tàu, nhóm ngành nghề hoạt động, như:
- Mặt bằng bến cảng có diện tích đáp ứng cho việc đưa các thiết bị nâng, cẩu vào cơ giới hóa, đẩy nhanh việc bốc xếp, vận chuyển, giảm được sự quá tải và nguy cơ ô nhiễm môi trường;
- Dành riêng công trình bến mới để bố trí tàu cá Đà Nẵng cập cảng;
- Sử dụng mặt bằng bến bãi hợp phần nâng cấp để bố trí tàu thuyền bán cá, giảm tải cho Chợ đầu mối Thủy sản Thọ Quang.
Trong giai đoạn hiện nay, trong từng thời điểm cụ thể, linh hoạt bố trí sắp xếp tàu hợp lý nhất, tập trung giải phóng nhanh cầu cảng số 2 để tăng lưu lượng tàu cập cảng. Trong đó,
- Tiếp tục bố trí cho cập mũi, điều động nhanh tàu hết cá ra bên ngoài. Không bố trí tàu lưới kéo, ghe gọ buôn cá cập cầu cảng số 2 (đưa về bố trí tại cầu cảng số 3);
- Thí điểm dành ½ cầu cảng số 2 để ưu tiên bố trí cho tàu cá của ngư dân Đà Nẵng cập cảng bốc dỡ hải sản. Trong những ngày không có hoặc có ít tàu Đà Nẵng linh hoạt bố trí tàu ngoại tỉnh nhằm giảm tải và đẩy nhanh việc bốc dỡ hải sản;
- Xây dựng Phương án giá theo hướng giá tăng lũy tiến theo thời gian cập cảng giờ cao điểm, thấp điểm (có mức giá ưu tiên, hỗ trợ cho tàu Đà Nẵng) và tăng cao đối với nhóm nghề khai thác có mức độ gây ô nhiễm để giảm tải cho các cầu cảng. Đồng thời, bổ sung quy định về thu, nộp tiền dịch vụ sử dụng Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang khi neo đậu trong Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang (trừ thời gian neo đậu tránh trú bão).
- Xây dựng tiêu chuẩn tàu cá, sản phẩm hải sản đáp ứng các điều kiện về bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm mới được cập Cảng cá Thọ Quang (bổ sung vào Nội quy quản lý cảng cá)…




Xem Nguyễn Vũ hỏi:
Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang được biết đến là một trong những điểm nóng về ô nhiễm môi trường tại Đà Nẵng. Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang có những giải pháp gì để khắc phục, ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm như hiện nay? 

a) Thực trạng
Tình trạng ô nhiễm môi trường, rác thải nước thải hiện nay 
Năng lực thu gom, xử lý nước thải, rác thải hiện nay vẫn có bất cập do hệ thống thu gom, xử lý nước thải hiện nay được đầu tư xây dựng từ trước năm 2010, thi công nhiều giai đoạn, chắp nối không đồng bộ, cộng với ý thức chấp hành của đại đa số ngư dân, thương nhân chưa tốt và đặc thù ngành nghề hoạt động sông nước, ban đêm nên tình trạng xả rác thải, nước thải vẫn còn phổ biến;
Công tác kiểm tra, xử lý của các lực lượng chức năng chưa quyết liệt, mức xử phạt vi phạm hành chính còn nhẹ, chưa tạo ra sự răn đe, thuyết phục đối với các hành vi xả nước thải, rác thải  không đúng quy định….
b) Giải pháp, đề xuất, kiến nghị
- Về cơ sở hạ tầng:  sớm triển khai dự án đầu tư nâng cấp, cải tạo cảng cá nhằm tạo ra cơ sở hạ tầng đồng bộ, có trạm xử lý nước thải, nhà phân loại hải sản, kho tàng, bến bãi, cầu cảng được che chắn ... góp phần khắc phục hạn chế, tồn tại, ngăn chặn và giải quyết đáng kể vấn đề ô nhiễm môi trường (trong hợp phần Dự án nâng cấp, mở rộng cảng cá có đầu tư xây dựng Trạm xử lý nước thải mới, công nghệ hiện đại khớp nối với hệ thống thu gom, xử lý nước thải hiện tại, hệ thống cống thoát nước mưa sẽ được tách riêng và sẽ thu gom nước thải từ Cảng cá và Chợ cá đưa về 02 Trạm xử lý nước thải tập trung (300m3/1 trạm xử lý) để xử lý trước khi đưa về khu xử lý nước thải tập trung Sơn Trà, đáp ứng việc xử lý môi trường tại khu vực). 
- Về xây dựng chính sách:  Tập trung sửa đổi, bổ sung Quyết định 03, Quyết định 13 trình UBND thành phố ban hành quyết định mới thay thế. Nội dung sửa đổi, bổ sung tập trung vào các nội dung sau:
+ Quy trình sắp xếp, bố trí tàu thuyền cập cảng theo hướng ưu tiên tàu đánh bắt xa bờ, các tàu chấp hành tốt các quy định về quản lý, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy; các nghề khai thác, sản phẩm khai thác ít ảnh hưởng đến môi trường, nguồn lợi thủy sản, …
+ Bổ sung, cụ thể hóa một số quy định của Luật Thủy sản, các quy định về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (khai thác IUU);
+ Bổ sung quy định không cho bốc dỡ, chuyển tiếp sản phẩm hải sản hôi thối, chất lượng kém (cá vụn làm thức ăn chăn nuôi) từ tàu này sang tàu khác tại khu vực Cảng cá Thọ Quang…
+ Bổ sung, làm rõ trách nhiệm phối hợp trong việc thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm của các đơn vị chức năng liên quan; cũng như biện pháp xử lý tàu vi phạm nhiều lần hoặc vi phạm nghiêm trọng.
(Hiện nay Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang chỉ đạo Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang rà soát, dự thảo và gửi đề nghị góp ý).
- Về triển khai thực tế:
+ Áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động, kiểm tra, xử lý “nguội” qua hệ thống camera giám sát, từ chối tiếp nhận vào cảng… nhằm răn đe, giảm thiểu, tiến đến xử lý dứt điểm tình trạng xả rác thải, nước thải không đúng quy định xuống vùng nước Âu thuyền;
+ Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp cải thiện và đảm bảo môi trường tại khu vực, hướng đến xây dựng chợ hải sản văn minh, kết hợp khai thác du lịch. Đặc biệt, tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả các giải pháp bảo vệ môi trường quy định tại Quyết định số 5629/QĐ-UBND ngày 18/8/2016 của UBND thành phố Đà Nẵng về ban hành Phương án quản lý vệ sinh môi trường tại khu vực Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Xem đây là giải pháp trọng tâm, thường xuyên, liên tục trong việc kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường tại Cảng cá Thọ Quang;
+ Phối hợp, hợp tác với các đơn vị chuyên ngành về xử lý môi trường tiếp tục nghiên cứu, triển khai các đề án khả thi về xử lý ô nhiễm môi trường tại khu vực Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang, đẩy mạnh việc tiếp nhận, ứng dụng các công nghệ, giải pháp kỹ thuật về xử lý ô nhiễm, nhất là xử lý mùi hôi tại khu vực Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang.
+ Sớm nạo vét bùn đáy Âu thuyền nhằm giảm thiểu mùi hôi (từ năm 2004 đến nay chưa được nạo vét). 




Xem Lê Văn Thiên hỏi:
Thực hiện Luật Thủy sản năm 2017 và để khắc phục thẻ vàng IUU, tàu cá khi đến/rời cảng cá phải chấp hành nhưng quy định gì?

1. Theo quy định của Luật Thủy sản ngày 21 tháng 11 năm 2017 và các giải pháp về chống khai thác IUU tại Quyết định số 27/QĐ-BNN-TCTS 05/01/2018 của Bộ NN& PTNT, Quyết định số 1813/QĐ-UBND ngày 07/5/2018 của UBND thành phố Đà Nẵng về thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nghề cá, tàu cá  khi đến, rời cảng phải thực hiện các quy định sau:
a) Thông báo thời gian tàu thuyền đến, rời cảng cho Ban Quản lý Âu thuyền và Cảng cá Thọ Quang theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật Thủy sản), cụ thể như sau:
- Trước ít nhất 01 giờ đối với tàu Việt Nam và 24 giờ đối với tàu cá nước ngoài khi tàu đến cảng, chủ tàu, thuyền trưởng phải thông báo cho Tổ chức quản lý cảng cá (Ban quản lý) về số đăng ký của tàu, cỡ loại tàu, các yêu cầu về dịch vụ và yêu cầu khác nếu có. Trường hợp bất khả kháng hoặc vào tránh trú bão, tàu cá Việt Nam không phải thực hiện thông báo tàu thuyền đến.
- Khi tàu rời cảng, thuyền trưởng phải thông báo cho Ban Quản lý trước ít nhất 01 giờ đối với tàu cá Việt Nam, trước ít nhất 12 giờ đối với tàu cá nước ngoài. 
b) Nộp, xuất trình các giấy tờ có liên quan
Trong thời hạn 24 giờ sau khi hoàn thành việc bốc dỡ hải sản chủ tàu, thuyền trưởng tàu khai thác có chiều dài từ 12m trở lên, tàu thu mua chuyển tải phải nộp sổ Nhật ký khai thác; tàu khai thác có chiều dài từ 6m đến dưới 12m phải nộp báo cáo khai thác cho Ban Quản lý ít nhất 01 tuần 01 lần.
Xuất trình giấy phép khai thác, các giấy tờ liên quan khi có yêu cầu. 
c) Chấp hành đúng Nội quy quản lý cảng cá. Chấp hành đúng các quy định về quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, PCCN và các lĩnh vực liên quan khác.
d) Chấp hành hoạt động kiểm tra, giám sát sản lượng hải sản bốc dỡ qua cảng khi tàu về bến hoặc rời cảng theo quy định của Luật Thủy sản. Trong đó,
- Đối với tàu cập cảng: Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên; tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 24 mét kiểm tra tối thiểu 20% đối với tàu làm nghề khai thác cá ngừ, tối thiểu 10% đối với tàu làm nghề lưới kéo, tối thiểu 05% đối với tàu làm nghề khác trên tổng số tàu cá cập cảng bốc dỡ thủy sản; tàu cá có dấu hiệu vi phạm quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định;
- Đối với tàu rời cảng: Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên; tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 24 mét kiểm tra tối thiểu 20% đối với tàu làm nghề khai thác cá ngừ, tối thiểu 10% đối với tàu làm nghề lưới kéo, tối thiểu 05% đối với tàu làm nghề khai thác khác trên tổng số tàu cá rời cảng đi khai thác.
đ) Chấp hành sự thanh tra, kiểm tra, xử lý của các cơ quan có thẩm quyền...
 e) Trường hợp, chủ tàu/thuyền trưởng không chấp hành đúng thì Ban Quản lý từ chối không cho chủ tàu, thuyền trưởng bốc dỡ hải sản lên cảng.
2. Tàu cá không được cập cầu cảng hoặc rời cảng trong các trường hợp sau đây:
a) Tàu cá không được cập cầu cảng
Vi phạm các quy định về chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU); 
Không chấp hành nội quy của cảng cá và sự điều động của Ban Quản lý.
b) Tàu cá không được rời cảng cá trong các trường hợp sau đây:
Không bảo đảm điều kiện an toàn cho người và tàu cá;
Có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp bị tạm giữ phương tiện theo quy định của pháp luật;
Có lệnh bắt giữ, tạm giữ tàu cá theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.




Xem Nguyễn Mỹ hỏi:
Xin quí vị cho biết thêm về các qui định mới trong việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình trên tàu cá ?

Theo khoản 3, Điều 44 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản quy định: 
- Lộ trình lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên phải hoàn thành lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá trước ngày 01/7/2019.
- Lộ trình lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét đến dưới 24 mét phải hoàn thành lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá trước ngày 01/4/2020.
Đồng thời, theo điểm b khoản 1, Điều 44 Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản, quy định: 
- Thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên phải tự động truyền qua hệ thống thông tin vệ tinh tối thiểu 12 vị trí/ngày với tần suất 02 giờ/lần các thông tin: Vị trí tàu (kinh độ, vĩ độ), thời gian (phút/giờ/ngày/tháng/năm); cảnh báo cho thuyền trưởng khi tàu vượt qua ranh giới cho phép trên biển.
- Thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét đến dưới 24 mét phải tự động truyền bằng một trong các phương thức qua hệ thống thông tin vệ tinh, hệ thống thông tin di động GMS, hệ thống thông tin sóng mặt đất sử dụng các băng tần MF, HF, VHF tối thiểu 08 vị trí/ngày với tần suất 03 giờ/lần các thông tin: Vị trí tàu (kinh độ, vĩ độ), thời gian (phút/giờ/ngày/tháng/năm); cảnh báo cho thuyền trưởng khi tàu vượt qua ranh giới cho phép trên biển.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, hỗ trợ ngư dân hoạt động khai thác trên các ngư trường truyền thống của Việt Nam; hiện nay thành phố đã ban hành chính sách hỗ trợ 100% kinh phí để mua thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên toàn bộ tàu cá Đà Nẵng có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên và kinh phí thuê bao năm đầu tiên tính từ thời điểm kết nối thiết bị phục vụ trong khai thác thủy sản, hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản (Nghị quyết số 255/2019/NQ-HĐND)




Xem Nguyễn Phương Bình hỏi:
Đề nghị quí vị cho biết thêm các qui định mới về chức danh, định biên thuyền viên an toàn trên tàu cá

Theo điểm a khoản 2,  Điều 10 Thông tư 22/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về thuyền viên tàu cá, tàu công vụ thủy sản: Quy định chức danh, định biên thuyền viên an toàn trên tàu cá:
- Đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét đến dưới 12 mét phải có tối thiểu 02 người: (01 thuyền trưởng và 01 thủy thủ) 
- Đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét dưới 15 mét phải có tối thiểu: 03 người (01 thuyền trưởng, 01 máy trưởng và 01 thủy thủ).
- Đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 mét đến dưới 24 mét phải có tối thiểu 04 người (01 thuyền trưởng, 01 máy trưởng, 01 thợ máy và 01 thủy thủ)
- Đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên phải có tối thiểu 06 người (01 thuyền trưởng, 01 thuyền phó, 01 máy trưởng, 01 thợ máy và 02 thủy thủ) 




Xem Trần Trọng Hoàng hỏi:
Trong thời gian đến, để phát triển sản phẩm ngư nghiệp là 1 trong 5 lĩnh vực mũi nhọn thực hiện Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và thực hiện chương trình phát triển kinh tế thủy sản bền vững, quý vị có thể cho biết định hướng của Đà Nẵng đối với ngành thủy sản trong những năm tiếp theo?

Thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018, “Về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; Nghị quyết 43-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Định hướng ngành thủy sản Đà Nẵng trong thời gian tới:
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
- Chuyển đổi cơ cấu nghề, giảm tàu khai thác hải sản ở vùng ven bờ, vùng lộng; đẩy mạnh khai thác xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển, đảo. Xây dựng và phát triển các mô hình liên kết, liên doanh, gắn kết các khâu trong quá trình sản xuất, từ khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm; nâng cao năng lực chế biến để gia tăng giá trị sản phẩm thủy sản.
- Đầu tư phát triển, hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá Thọ Quang theo hướng công nghiệp, thương mại, trở thành trung tâm nghề cá của cả nước gắn với ngư trường Biển Đông và Hoàng Sa đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ quốc. 
- Bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, ngăn chặn sự suy giảm nguồn lợi và môi trường sống của các loài thủy sản. Quản lý có hiệu quả các hoạt động khai thác thuỷ sản, nâng cao trách nhiệm và nghĩa vụ của cộng đồng trong việc tham gia bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản một cách bền vững.