THÔNG TIN CHI TIẾT


Thực hiện chính sách pháp luật về lao động, tiền lương và bảo hiểm xã hội

Diễn ra vào lúc: 08:30 - Ngày 12/04/2019

Chương trình tiếp nhận câu hỏi từ hôm nay tại địa chỉ www.doithoai.danang.gov.vn, thư điện tử: doithoai@danang.gov.vn hoặc qua số điện thoại: 0236.1022/nhấn số 1 (Trong thời gian diễn ra buổi đối thoại)
Chương trình đối thoại trực tuyến của Cổng Thông tin điện tử thành phố được cập nhật liên tục tại địa chỉ www.doithoai.danang.gov.vn.
Quý vị  có thể tham dự và đặt câu hỏi trực tiếp tại buổi đối thoại cùng chúng tôi, thông tin đăng ký xin vui lòng gửi thư điện tử về địa chỉ doithoai@danang.gov.vn.

Số câu hỏi tham gia/Số câu hỏi đã trả lời: 38/ 24
Xem Trần Viết Lập hỏi:
Người sử dụng lao động không bố trí cho người lao động nghỉ hằng tuần, mỗi tháng chỉ cho người lao động được nghỉ 02 ngày theo đề nghị của người sử dụng lao động, với hành vi trên người sử dụng lao động bị xử lý như thế nào?

 Theo quy định tại Điều 110 Bộ luật lao động 2012 quy định về nghỉ hằng tuần:
“ Mỗi tuần, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày.
Người sử dụng lao động có quyền quyết định sắp xếp ngày nghỉ hằng tuần vào ngày chủ nhật hoặc một ngày cố định khác trong tuần nhưng phải ghi vào nội quy lao động”.
Vậy, với hành vi không đảm bảo cho người lao động được nghỉ môi tuần ít nhất 24 giờ liên tục hoặc trong trường hợp đặc biết không đảm bảo cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày, người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:
“ Phạt tiền người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định về nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết theo các mức sau đây:
- Từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên”.




Xem Hoàng Ngọc Thành hỏi:
Tôi nghe nói đơn vị chậm đóng BHYT từ 30 ngày trở lên thì thẻ BHYT của nhân viên cả đơn vị bị khóa. Vậy cho tôi hỏi, đơn vị đã đóng đầy đủ BHYT đến tháng 12/2018, tháng 01/2019 đơn vị chưa đóng, ngày 20/2/2019 đơn vị mới đóng thì thẻ BHYT có bị khóa không ? Thời hạn bắt đầu tính trễ là từ ngày cuối cùng của tháng hết hạn nộp BHYT chuyển qua tháng sau hay từ ngày đầu tháng đến ngày cuối cùng của tháng ? Nếu phát sinh chi phí KCB BHYT thì đơn vị có chịu trách nhiệm gì không ? 

Điều 15 Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008, quy định: Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng BHYT cho người lao động và trích tiền đóng BHYT từ tiền lương, tiền công của người lao động để nộp cùng một lúc vào quỹ BHYT. 
Khoản 28 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 quy định: Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHYT mà không đóng hoặc đóng không đầy đủ theo quy định của pháp luật thì ngoài khoản BHYT phải nộp và tiền lãi còn bị xử lý “Phải hoàn trả toàn bộ chi phí cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT mà người lao động đã chi trả trong thời gian chưa có thẻ BHYT”
Như vậy, nếu đơn vị bạn nợ, thẻ BHYT sẽ bị khóa ngay chứ không phải khóa sau 30 ngày; theo ví dụ của bạn, từ ngày 01/02/2019 đơn vị đã nợ BHYT. Về chi phí phát sinh khi người lao động đi KCB, người sử dụng lao động phải chi trả. 




Xem Lê Thương hỏi:
Tôi là doanh nghiệp muốn ký kết HĐLĐ, tuy nhiên sau thời gian thử việc, tôi thấy NLĐ chưa đạt yêu cầu. Vậy tôi có quyền thử việc đối với NLĐ thêm lần nữa được không?

- Tại Điều 27 Bộ luật Lao động 2012 quy định về thời gian thử việc: 
“Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:
1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.
3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.”
Căn cứ các quy định nêu trên thì Công ty chỉ được thử việc người lao động một lần. Việc doanh nghiệp thử việc nhiều lần đối với NLĐ là không đúng quy định pháp luật.




Xem Trần Hùng hỏi:
Người sử dụng lao động không xây dựng Nội quy lao động hoặc xây dựng Nội quy lao động nhưng không đăng ký với cơ quan quản lý về lao động địa phương thì bị xử lý vi phạm hành chính như thế nào?

Căn cứ Khoản 1, khoản 3 Điều 19 Bộ luật lao động 2012: “Người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản; Trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.”
Căn cứ Khoản 1, khoản 2 Điều 120 Bộ luật lao động 2012: “Người sử dụng lao động phải đăng ký nội quy lao động tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh; Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ đăng ký nội quy lao động.”
Căn cứ Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì:
“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
- Không có nội quy lao động bằng văn bản khi sử dụng từ 10 lao động trở lên;
- Sử dụng nội quy lao động không được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh;”
Căn cứ những quy định trên, Người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản và Nội quy lao động phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh. Trường hợp vi phạm các quy định trên, Người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 95/2016/NĐ-CP. 
Lưu ý: Mức phạt tiền trên là đối với cá nhân, đối với tập thể mức phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân.




Xem Thái Thị Thu Lan hỏi:
Nếu nghỉ việc ở công ty thì cá nhân có thể tự đóng BHXH được không? Nếu tự đóng BHXH thì có được hưởng chế độ thai sản không ? 

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội: Nếu Bạn nghỉ việc ở công ty mà không tiếp tục đi làm và tham gia BHXH bắt buộc thì Bạn có quyền đăng ký tham gia BHXH tự nguyện. Chế độ BHXH tự nguyện chỉ bao gồm Hưu trí và Tử tuất (khác với BHXH bắt buộc gồm có 05 chế độ: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động-Bệnh nghề nghiệp; Hưu trí và Tử tuất). Vì vậy, khi Bạn tham gia BHXH tự nguyện sẽ không được hưởng chế độ thai sản. 




Xem Nguyễn Hồng Lan hỏi:
Các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Đà Nẵng diễn ra như thế nào thưa ông Nguyễn Hùng Anh. 

 Việc tham gia và giải quyết chế độ BHXH, BHTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng về cơ bản là tốt, phần lớn các đơn vị đều chấp hành các quy định của pháp luật. Năm 2018, BHXH thành phố đã chi trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cho 84.160 lượt người, giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 245.923 lượt người; giải quyết cho 1.769 người hưởng chế độ BHXH hàng tháng; 13.357 lượt người  hưởng các chế độ BHXH một lần;...

Tuy nhiên, hình hình nợ BHXH, BHYT, BHTN còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia. Năm 2018, toàn thành phố có 2.046 đơn vị nợ từ 03 tháng trở lên với tổng số tiền nợ 236 tỷ đồng, trong đó, có gần 91 tỷ đồng của các đơn vị nợ mất tích, giải thể, phát sản gần như không thể thu hồi; một số đơn vị nợ lớn, kéo dài như: Công ty Cổ phần Cơ khí - Lắp máy Sông Đà - Chi nhánh 5, nợ trên 12 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV TBO VINA,  nợ 10,6 tỷ đồng; Công ty Cơ khí ô tô và thiết bị điện Đà Nẵng, nợ 9,8 tỷ đồng;  Công ty CP ĐTXD & TM VINAWACO 25, nợ 5,9 tỷ đồng), Công ty Cổ phần Lilama 7, nợ 5,5 tỷ đồng;...




Xem Nguyễn Ngọc Hải hỏi:
Tôi là Người lao động làm việc tại công ty A được 3 năm, sau đó đến làm việc tại Công ty B được 2 năm. Tổng thời gian tôi làm việc theo HĐLĐ có đóng BHXH là 05 năm. Vậy khi nghỉ hàng năm (nghỉ phép) tại Công ty B, tôi có được nghỉ hưởng thêm 01 ngày nghỉ hàng năm theo quy định của Bộ luật lao động là cứ làm việc 5 năm, thì nghỉ thêm 01 ngày không?

 - Tại Điều 112, Bộ luật Lao động 2012 quy định về ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo thâm niên làm việc có nội dung: “Cứ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này được tăng thêm tương ứng 01 ngày.”
Theo thông tin nêu trên, thời gian để tính ngày nghỉ tăng theo thâm niên làm việc là thời gian NLĐ làm việc cho công ty B (một người sử dụng lao động). Như vậy, chị làm công ty B được 02 năm, chưa đủ 05 năm. (thời gian làm việc ở Công ty A không được tính là thời gian nghỉ tăng theo thâm niên tại công ty B.). Do đó chị chưa  đủ điều kiện để nghỉ hằng năm tăng theo thâm niên cứ 05 năm làm việc cho một NSDLĐ thì được thêm 01 ngày nghỉ hàng năm.  




Xem Nguyễn Thị Hoa hỏi:
Em đã đóng BHXH từ tháng 5/2017 tại Công Ty A và đã nghỉ việc ngày 04/7/2017. Công ty đã báo giảm cho em, nhưng chưa chốt sổ, bây giờ em xin công ty lấy sổ ra và tự đi chốt sổ BHXH của mình đến tháng 6/2017 được không (công ty còn nợ tiền BHXH Qúy 3/2017) ?

Theo quy định tại Điểm 3.2 Khoản 3 Điều 46 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, nếu người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động. 
Như vậy, trường hợp của Bạn sẽ chốt sổ đến thời điểm Công ty đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN (tháng 6/2017). 
Về trách nhiệm chốt sổ BHXH, tại Khoản 5 Điều 21 Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định: Người sử dụng lao động phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động, xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật. 




Xem Lâm Thị Mỹ Tiên hỏi:
Khi xảy ra tình trạng chủ doanh nghiệp nợ BHXH thì việc xác nhận và trả sổ BHXH cho người lao động được thực hiện ra sao ?

Theo quy định tại Điểm 3.2 Khoản 3 Điều 46 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam: Đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, nếu người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động.
Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN. Sau khi đơn vị đóng số tiền còn nợ thì cơ quan BHXH sẽ xác nhận bổ sung thời gian tham gia BHXH vào sổ BHXH




Xem Phạm Ngọc Thành hỏi:
Người sử dụng lao động xử lý người lao động vi phạm kỷ luật lao động bằng hình thức phạt tiền, cắt lương thì bị xử lý hanh vi như thế nào?

- Theo quy định tại Khoản 1 Điều 114 Bộ luật Lao động 2012 thì: “Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.”
  - Theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động thì: “Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm được quy định như sau:  Đối với người lao động đã làm việc từ đủ 06 tháng trở lên là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm. Đối với người lao động chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm vì các lý do khác là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người sử dụng lao động tính trả bằng tiền những ngày chưa nghỉ hằng năm”
  Căn cứ các quy định nêu trên, khi người lao động nghỉ việc tại Công ty thì Công ty  phải thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ trong năm 2018 và Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.




Xem Phạm Văn Hiệp hỏi:
Tôi làm việc tại doanh nghiệp, trước khi vào ký HĐLĐ thử việc, công ty có yêu cầu tôi phải trải qua giai đoạn học nghề, trong thời gian học nghề tôi có làm ra sản phẩm cho công ty. Tuy nhiên công ty không trả lương cho tôi. Vậy việc làm công ty như vậy có đúng không? 

 - Căn cứ quy định tại Điều 61 Bộ luật Lao động 2012 “NSDLĐ tuyển người lao động vào học nghề để làm việc cho mình, thì không thu học phí, đồng thời hai bên phải ký hợp đồng đào tạo nghề”. Trong thời gian học nghề nếu người học nghề trực tiếp tham gia lao động làm ra sản phẩm thì NSDLĐ phải trả lương cho người lao động, mức lương do hai bên thỏa thuận.
  Như vậy, việc công ty tuyển dụng bạn vào học nghề sau đó làm việc cho công ty là đúng. Tuy nhiên khi tuyển dụng vào học nghề, bạn phải yêu cầu công ty ký hợp đồng đào tạo nghề đúng quy định tại Điều 61 Bộ luật Lao động 2012.
  Trong trường hợp bạn làm ra sản phẩm cho công ty trong thời gian học nghề, thì bắt buộc công ty phải trả lương cho bạn. Mức lương trả do hai bên thỏa thuận. Căn cứ nội dung trả lời trên, bản làm việc lại với công ty hoặc công đoàn công ty để được hỗ trợ.




Xem Phan Thanh Hiền, cán bộ an toàn công ty Thanh Hòa hỏi:
Tôi là cán bộ chuyên trách về lĩnh vực ATVSLĐ tại một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực may mặc, số lượng người lao động trên 1000 người. Do số lao động tại Công ty tương đối lớn nên Giám đốc Công ty rất quan tâm đến công tác An toàn, vệ sinh lao động và Công tác phòng chống cháy nổ tại đơn vị, ông luôn yêu cầu bộ phận phụ trách công tác ATVSLĐ và PCCN phải chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Tôi xin được hỏi trong trường hợp công ty xảy ra tai nạn lao động thì phải thực hiện khai báo như thế nào?

Khi xảy ra tai nạn lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm khai báo và thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động để điều tra vụ tai nạn lao động cụ thể như sau:
Tại Khoản 1 Điều 34 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định:
- Khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thì người bị tai nạn hoặc người biết sự việc phải báo ngay cho người phụ trách trực tiếp, người sử dụng lao động biết để kịp thời có biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả xảy ra;
- Đối với các vụ tai nạn quy định tại điểm a khoản này làm chết người hoặc làm bị thương nặng từ hai người lao động trở lên thì người sử dụng lao động có trách nhiệm khai báo ngay với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi xảy ra tai nạn; trường hợp tai nạn làm chết người thì phải đồng thời báo ngay cho cơ quan Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);
- Khi xảy ra tai nạn lao động làm chết người hoặc bị thương nặng đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động thì gia đình nạn nhân hoặc người phát hiện có trách nhiệm khai báo ngay với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi xảy ra tai nạn lao động để kịp thời có biện pháp xử lý.
Sau khi thực hiện khai báo theo quy định trên, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức điều tra các vụ tai nạn thuộc thẩm quyền của NSDLĐ theo quy định tại Điều 35 Luật An toàn, vệ sinh lao động, cụ thể:
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở để tiến hành điều tra tai nạn lao động làm bị thương nhẹ, tai nạn lao động làm bị thương nặng một người lao động thuộc thẩm quyền quản lý của mình.
- Biên bản điều tra tai nạn lao động phải được công bố công khai tại cuộc họp dưới sự chủ trì của Trưởng đoàn điều tra tai nạn lao động và các thành viên tham dự là thành viên của Đoàn điều tra, người sử dụng lao động hoặc người đại diện được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản, đại diện tổ chức công đoàn, người bị nạn hoặc đại diện thân nhân người bị nạn, người biết sự việc, người có liên quan đến vụ tai nạn; trường hợp xảy ra tai nạn lao động chết người còn có đại diện cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Biên bản điều tra tai nạn lao động và biên bản cuộc họp công bố biên bản điều tra tai nạn lao động phải gửi đến các cơ quan có thành viên trong Đoàn điều tra tai nạn lao động, cơ quan quản lý nhà nước về lao động, người sử dụng lao động của cơ sở xảy ra tai nạn lao động và các nạn nhân hoặc thân nhân người bị tai nạn lao động.




Xem Nguyễn Thị Thảo hỏi:
Người lao động Công ty em bị sẩy thai lần một tháng 01/2018, chế độ sẩy thai và dưỡng sức đã được giải quyết. Lần hai sẩy thai tháng 10/2018 nhưng chế độ dưỡng sức không được duyệt với lý do hết ngày chế độ. 
Cho em hỏi có giới hạn số ngày nghỉ dưỡng sức trong một năm không? Một năm sẩy thai hai lần, thì có được nghỉ dưỡng sức hai lần không ?

Theo quy định tại Điểm e, Khoản 2 Công văn số 3432/LĐTBXH-BHXH ngày 08/9/2016 về việc thực hiện chế độ BHXH theo Luật BHXH năm 2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định “Thời gian tối đa nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật BHXH được tính cho một năm, kể từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch” và Khoản 2, Điều 41 Luật BHXH quy định về thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên; tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật; tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.
Theo các quy định, nếu trong 01 năm lao động nữ bị sảy thai 02 lần:
- Trường hợp sau lần sảy thai thứ nhất, lao động nữ đã nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe với thời gian tối đa 05 ngày thì không được giải quyết hưởng chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau sảy thai tại lần sảy thai thứ hai.
- Trường hợp sau lần sảy thai thứ nhất, lao động nữ chưa nghỉ hết chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe (tối đa 05 ngày) thì tiếp tục được giải quyết hưởng chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau sảy thai lần hai cho số ngày còn lại (số ngày nghỉ tối đa cho cả 02 lần nghỉ là 05 ngày).




Xem Nguyễn Thị Huyền hỏi:
Tôi là nhân viên văn phòng làm giờ hành chính 8 giờ/ngày (Buổi sáng từ 7h30-11h30, Buổi chiều: 13h30-17h30). Công ty thỏa thuận làm thêm 02 giờ, như vậy tổng số giờ làm việc trong ngày của tôi là 10 giờ. Trong thời gian làm giờ hành chính, công ty không cho tôi được nghỉ thêm ít nhất 30 phút. Việc quy định thời giờ làm việc như trên có đúng pháp luật không? Tôi được hưởng quyền lợi gì?

 - Tại khoản 1 Điều 108 BLLĐ 2012 quy định về nghỉ trong giờ làm việc như sau: “Người lao động làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật này được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào thời giờ làm việc.”
- Tại Điều 5, Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động quy định nghỉ trong giờ làm việc: 
“1. Thời gian nghỉ giữa giờ làm việc quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 108 của Bộ luật lao động được coi là thời giờ làm việc áp dụng trong ca liên tục 08 giờ trong điều kiện bình thường hoặc 06 giờ trong trường hợp được rút ngắn. Thời điểm nghỉ cụ thể do người sử dụng lao động quyết định.
2. Ngoài thời giờ nghỉ ngơi trong ca làm việc bình thường được quy định tại Khoản 1 Điều này, người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên kể cả số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc.”
Theo thông tin bạn nêu trên, thời gian làm việc hành chính của bản là thời gian làm việc không liên tục (có thời gian nghỉ trưa 02 giờ) nên công ty không cho bạn nghỉ giữa giờ 30 phút là đúng quy định. Tuy nhiên tổng thời gian làm việc trong ngày kể cả thời gian làm thêm của bản là 10 giờ, thì công ty phải bố trí cho bạn nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc.




Xem Lê Thành Long hỏi:
Hiện nay tôi được biết các thủ tục giao dịch đều thông qua phần mềm điện tử, công ty tôi chỉ có 02 nhân viên, không hoạt động gì nhiều. Nay có 01 nhân viên nghỉ việc, khi tôi báo giảm cho lao động nghỉ việc bằng giấy thì BHXH quận không chấp nhận, nói phải kê khai qua phần mềm điện tử. Tôi muốn hỏi có thể không mua phần mềm giao dịch điện tử được không ? 

 Hiện nay, cơ quan BHXH đang cung cấp phần mềm KBHXH miễn phí để thực hiện kê khai hồ sơ giao dịch BHXH điện tử. Bạn có thể vào đường dẫn https://gddt.baohiemxahoi.gov.vn/#/index để tải phần mềm KBHXH và hướng dẫn sử dụng. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc Bạn có thể liên hệ với BHXH quận nơi đơn vị Bạn đang đăng ký tham gia BHXH để được hỗ trợ. 




Xem Trần Văn Hải hỏi:
Thẻ bảo hiểm y tế bị mờ thông tin (thẻ bị hỏng).... muốn xin cấp lại thẻ bảo hiểm mới mất khoảng bao lâu và thủ tục cấp lại như thế nào ? 

Theo Khoản 4 Điều 27, Khoản 2 Điều 30 về Quy trình Thu BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN); quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT Ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam quy định: 
- Thành phần hồ sơ cấp lại: Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS).
- Thời hạn cấp: Trường hợp không thay đổi thông tin, không quá 02 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định. Từ ngày 01/01/2019 trở đi, cấp trong ngày khi nhận đủ hồ sơ theo quy định.




Xem Nguyễn Thị Thanh Thúy hỏi:
Người sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ quá quy định thì bị xử lý vi phạm hành chính như thế nào?

Quy định tại Điều 4 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Số giờ làm thêm trong ngày được quy định như sau:
+ Không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; khi áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;
+ Không quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.
- Việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm được quy định như sau:
+ Các trường hợp sau đây được tổ chức làm thêm:
Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản;
Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.
+ Khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội).
Người sử dụng lao động huy động người lao động trái quy định nêu trên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Khoản 4, 5 Điều 14 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:
“Khoản 4: Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá số giờ quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật lao động hoặc quá 12 giờ trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.
Khoản 5. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng đối với người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.”.
Lưu ý: Mức phạt tiền trên là đối với cá nhân, đối với tập thể mức phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân. 




Xem Nguyễn Quốc Việt hỏi:
Tôi là chủ doanh nghiệp, vừa qua Chính phủ ban hành Nghị định quy định về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Trong đó quy định cụ thể về các nội dung thực hiện về Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Cho tôi hỏi Doanh nghiệp có trách nhiệm gì trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc? 

- Căn cứ Điều 11 Nghị định số 149/2018/NĐ-CP ngày 7/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. NSDLĐ có trách nhiệm ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. 
+ Tuy nhiên trước khi ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, NSDLĐ phải lấy ý kiến của của tổ chức đại diện tập thể người lao động tại cơ sở (lấy ý kiến của CĐCS) và được phổ biến công khai đến từng người lao động




Xem Huỳnh Thị Lệ hỏi:
Khi nghỉ việc tôi chưa có việc làm nên đăng ký hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp. Vậy cho tôi hỏi, trong thời gian đang hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp thì tôi có thể nộp bảo hiểm tự nguyện được không ? 

Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định đối tượng tham gia BHXH tự nguyện như sau: Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 của Luật BHXH.
Như vậy, trường hợp Bạn đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì Bạn có thể đăng ký tham gia BHXH tự nguyện. 




Xem Trần Nhật Vinh hỏi:
Tháng 10/2018, tại công ty tôi có người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (vi phạm về thời gian báo trước). Tuy nhiên, đến tháng 3/2019 người lao động mới liên hệ công ty để giải quyết việc bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Trong trường hợp này, công ty được phép yêu cầu người lao động bồi thường mức tiền lương nào?

Tại Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động quy định: 
Tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Khoản 5 Điều 42 hoặc Khoản 2 Điều 43 của Bộ luật Lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Căn cứ quy định nêu trên, khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì đơn vị yêu cầu người lao động bồi thường tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.




Xem Phạm Ngọc Linh hỏi:
Những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật lao động về sử dụng lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị xử lý vi phạm hành chính?

Những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật lao động về sử dụng lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Người sử dụng lao động bị xử lý vi phạm hành chính:
- Không thông báo tình hình sử dụng lao động là người nước ngoài cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động hoặc báo cáo nhưng chưa đảm bảo những nội dung, thời hạn theo quy định của pháp luật. Đối với hành vi này, mức phạt tiền là từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (Khoản 15 Điều 1 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP);
- Sử dụng lao động nước người làm việc mà không có giấy phép lao động hoặc không có giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động hoặc sử dụng người lao động nước ngoài có giấy phép lao động đã hết hạn. Đối với hành vi này, mức phạt tiền như sau (Khoản 15 Điều 1 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP):
+ Từ 30.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người;
+ Từ 45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 20 người;
+ Từ 60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 21 người trở lên.
Lưu ý: Mức phạt tiền trên là đối với cá nhân, đối với tập thể mức phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân.




Xem Hoàng Kim Quang hỏi:
Tại doanh nghiệp tôi làm việc, tôi đã được ký hợp đồng 1 năm và chủ doanh nghiệp chưa đóng BHXH cho tôi. Cho tôi hỏi, việc doanh nghiệp chưa đóng BHXH cho tôi có đúng không, trường hợp này pháp luật quy định như thế nào ? 

Theo quy định hiện hành người lao động hợp đồng lao động từ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham BHXH bắt buộc. Bạn đã ký HĐLĐ 1 năm với chủ doanh nghiêp mà chủ sử dụng lao động không tham gia BHXH cho bạn là không đúng quy định của Luật BHXH. 
Căn cứ Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014, Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013: 
Hàng tháng, người sử dụng lao động và người lao động phải có trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN. Người sử dụng lao động chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng thì phải nộp số tiền lãi gấp hai lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH của năm trước liền kề tính treeb số tiền chậm đóng.
Việc không đóng, trốn đóng, kể cả chậm đóng BHXH, BHTN là một trong các hành vi bị pháp luật về BHXH, BHTN nghiêm cấm (Điều 17, Luật BHXH năm 2014; Điều 9, Luật Việc làm năm 2013).
Theo quy định của luật BHXH thì cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 




Xem Thanh Thủy hỏi:
Người lao động có thể đóng thay khoản BHXH mà doanh nghiệp nợ để đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản, hưu trí… hay không ?

 Căn cứ Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) số 58/2014/QH13 quy định đối tượng tham gia BHXH, Điều 85 quy định mức đóng và phương thức đóng BHXH thì bạn không thể đóng thay khoản BHXH mà thuộc trách nhiệm người sử dụng lao động phải đóng.




Xem Nguyễn Thế Nam hỏi:
Những hành vi vi phạm các quy định về Thanh lương, bảng lương bị xử phạt vi phạm hành chính?

Những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật lao động về Thang lương, bảng lương sau đây thì bị xử lý vi phạm hành chính:
- Không gửi Thang lương, bảng lương đến cơ quản quản lý nhà nước về lao động cấp huyện theo quy định;
- Không xây dựng Thang lương, bảng lương hoặc xây dựng Thang lương, bảng lương không đúng quy định của pháp luật;
- Sử dụng Thang lương, bảng lương không đúng quy định khi có ý kiến sửa đổi, bổ sung của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện;
- Không công bố công khai tại nơi làm việc Thang lương, bảng lương.
Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với một trong các hành vi trên được quy định tại Khoản 10 Điều 1 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không gửi thang lương, bảng lương đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện theo quy định;
- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
+ Không xây dựng thang lương, bảng lương hoặc xây dựng thang lương, bảng lương không đúng quy định của pháp luật;
+ Sử dụng Thang lương, bảng lương không đúng quy định khi có ý kiến sửa đổi, bổ sung của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện;
+ Không công bố công khai tại nơi làm việc Thang lương, bảng lương.
Lưu ý: Mức phạt tiền trên là đối với cá nhân, đối với tập thể mức phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân.